QUY ĐỊNH VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI THEO BLTTDS

      Trong thực tiễn quá trình tham gia tố tụng, đôi khi không thể tránh khỏi những tình huống phát sinh bất ngờ, gây ra những cản trở, bất lợi cho đương sự. Việc sử dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời giống như một công cụ pháp lí nhanh gọn và hiệu quả được đương sự lựa chọn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho chính mình trong trường hợp cấp bách. Vậy biện pháp khẩn cấp tạm thời là gì, có ý nghĩa như thế nào và được áp dụng trong trường hợp nào, áp dụng ra làm sao? Hãy cùng đọc bài viết dưới đây của Luật NQH Việt Nam để tìm câu trả lời.


Cơ sở pháp lý


Biện pháp khẩn cấp tạm thời là gì?

Biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) là biện pháp tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tình trạng tài sản, bảo vệ bằng chứng hoặc bảo đảm thi hành án.

      Tính khẩn cấp thể hiện ở chỗ, Tòa án phải ra quyết định áp dụng ngay và quyết định này được thực hiện ngay sau khi Tòa án ra quyết định, nếu không sẽ mất hết ý nghĩa, tác dụng.
Tính tạm thời thể hiện ở chỗ, quyết định áp dụng BPKCTT chưa phải là quyết định cuối cùng về giải quyết vụ việc dân sự, nếu lý do của việc áp dụng không còn nữa thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định này.

Ý nghĩa của biện pháp khẩn cấp tạm thời

  • Tạm thời giải quyết các yêu cầu cấp bách của đương sự có liên quan trưc tiếp đến vụ án.
  • Bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được. Bảo vệ chứng cứ, ngăn chặn những hành vi hủy hoại bằng chứng làm sai lệch nội dung vụ việc.
  • Kịp thời khắc phục những hậu quả, thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra; đảm bảo việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Khi nào áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.


Các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của BLTTDS

      Điều 114 BLTTDS 2015 quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời bao gồm các biện pháp sau:

  • Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
  • Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng.
  • Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm.
  • Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
  • Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.
  • Kê biên tài sản đang tranh chấp.
  • Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.
  • Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.
  • Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác
  • Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ.
  • Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.
  • Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.
  • Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.
  • Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình.
  • Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu.
  • Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án.
  • Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy định

Trên đây là những biện pháp KCTT, phụ thuộc vào từng trường hợp mà các chủ thể có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết để áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.


Khi nào áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời?

                Pháp luật hiện hành quy định các trường hợp áp dụng BPKCTT tại Điều 111, cụ thể:

    • Thứ nhất, trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của BLTTDS 2015 có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều BPKCTT đã nêu trên để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.
    • Thứ hai, trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPKCTT, đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án.
    • Thứ ba, cũng có trường hợp Tòa án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cụ thể là các biện pháp được quy định tại khoản 1,2,3,4,5 của Điều 114 BLTTDS 2015 nếu đương sự không yêu cầu áp dụng các BPKCTT.

      Như vậy, có thể thấy, việc xác định áp dụng BPKCTT  sẽ căn cứ vào 3 yếu tố cơ bản bao gồm:

  • Quyền, lợi ích của đương sự đang hoặc có khả năng bị xâm phạm: Đây là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu khi xác định có phải áp dụng các BPKCTT hay không. Một khi quyền lợi của đương sự có nguy cơ bị xâm hại thì việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời là vô cùng cần thiết, nó ví như một “phao cứu sinh” mà pháp luật cho phép các đương sự được sử dụng cho đến khi giải quyết xong vụ án.
  • Tính cấp thiết của vấn đề: Trong những trường hợp cấp bách, nếu như không áp dụng BPKCTT thì sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định thế nào là cấp thiết vẫn chưa rõ ràng. Bởi có thể thấy, về bản chất BPKCTT là một công cụ mà các bên tranh chấp được sử dụng để bảo vệ các quyền và lợi ích của mình một cách tạm thời cho đến khi vụ án được giải quyết xong.

      BPKCTT có thể được áp dụng để hạn chế hoặc buộc các bên tranh chấp hay bên thứ ba thực hiện một hành vi nhất định với mục đích giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, thu thập chứng cứ kịp thời, giữ nguyên hiện trạng nhằm tránh những thiệt hại không thể khắc phục hoặc bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong tranh chấp. Với chức năng đó, mặc dù mang tính chất tạm thời, việc áp dụng BPKCTT vẫn tiềm ẩn khả năng gây ra thiệt hại đối với bên bị áp dụng hoặc bên thứ ba.

  • Các thiệt hại có thể xảy ra nếu không được áp dụng các BPKCTT phải lớn hơn so với thiệt hại xảy ra đối với bên bị áp dụng hoặc bên thứ ba: Vì mục đích của các BPKCTT chính là bảo vệ quyền lợi cho các bên có yêu cầu, tuy vậy, việc áp dụng các biện pháp này phải đem lại hiệu quả chung cho xã hội, tức là phải cân nhắc đến khả năng gây ra thiệt hại khi áp dụng các BPKCTT. Tóm lại là, khi có sự chênh lệch lớn thiệt hại trong trường hợp không áp dụng và có áp dụng BPKCTT thì sẽ áp dụng BPKCTT nhằm hạn chế những rủi ro và thiệt hại thực tế gây ra.

Thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời

      Người yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT phải làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền. Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính sau đây:

  • Ngày, tháng, năm làm đơn;
  •  Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu
  •  Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người bị yêu cầu
  •  Tóm tắt nội dung tranh chấp hoặc hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
  •  Lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
  • Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể.

Tuỳ theo yêu cầu áp dụng BPKCTT người yêu cầu phải cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp đó.

      Yêu cầu áp dụng BPKCTT trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 111 của Bộ tố tụng dân sự 2015 được giải quyết như sau:
Trường hợp Tòa án nhận đơn yêu cầu trước khi mở phiên tòa thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, nếu người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc ngay sau khi người đó thực hiện xong biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 136 của Bộ luật này thì Thẩm phán phải ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu;

      Trường hợp Hội đồng xét xử nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử xem xét, thảo luận, giải quyết tại phòng xử án. Nếu chấp nhận thì Hội đồng xét xử ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay hoặc sau khi người yêu cầu đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 136 của Bộ tố tụng dân sự 2015.



      Việc thực hiện biện pháp bảo đảm được bắt đầu từ thời điểm Hội đồng xét xử ra quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm, nhưng người yêu cầu phải xuất trình chứng cứ về việc đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án; nếu không chấp nhận yêu cầu áp dụng BPKCTT thì Hội đồng xét xử phải thông báo ngay tại phòng xử án và ghi vào biên bản phiên tòa.

      Điều 136 BLTTDS 2015 quy định như sau:

Người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15 và 16 Điều 114 của Bộ luật này phải nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu.(Khoản 1)

      Đối với trường hợp yêu cầu áp dụng BPKCTT quy định tại khoản 2 Điều 111 của Bộ tố tụng dân sự 2015 thì sau khi nhận được đơn yêu cầu cùng với đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án phân công ngay một Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu, Thẩm phán phải xem xét và ra quyết định áp dụng BPKCTT; nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết.

      Trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 10 và khoản 11 Điều 114 của Bộ tố tụng dân sự 2015 thì chỉ được phong tỏa tài khoản, tài sản có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện.


      Qua bài viết này, Luật NQH Việt Nam đã phần nào giải đáp được những thắc mắc của các bạn về các trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nếu còn thắc mắc cần giải đáp, các bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến 19006588 của Luật NQH Việt Nam để được hỗ trợ cụ thể và chi tiết nhất.

      Trân trọng./.


Bài viết tham khảo:




Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of
G