BẢO LƯU THỜI GIAN HƯỞNG TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP – LUẬT NQH VIỆT NAM

      Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Khi người lao động chưa nhận, chưa có nhu cầu nhận, chưa làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp,… hay một số trường hợp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật thì sẽ được bảo lưu thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp.


Cơ sở pháp lý


Các trường hợp được bảo lưu bảo hiểm thất nghiệp

      Căn cứ tại Khoản 2 Điều 9 Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH Hướng dẫn thực hiện Điều 52 của Luật Việc làm và một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP thì các trường hợp có thời gian đóng bảo hiểm xã hội được bảo lưu bao gồm:

Người lao động không đến nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp

      Theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 18 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp

      Sau thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày ghi trong phiếu hẹn trả kết quả, nếu người lao động không đến nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp thì được coi là không có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều này. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày người lao động không đến nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định, trung tâm dịch vụ việc làm trình Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội quyết định về việc hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động.

      Ví dụ 1: Ông A làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp, có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 24 tháng, thời gian được hưởng trợ cấp thất nghiệp là 03 tháng. Ngày hẹn đến nhận quyết định về hưởng trợ cấp thất nghiệp là 14/5/2019, tuy nhiên đến hết ngày 16/5/2019 ông A không đến nhận quyết định thì được coi là không có nhu cầu hưởng ( trừ những trường hợp có lý do chính đáng theo quy định tại Nghị định 28/2015/NĐ-CP). Nên sẽ bị hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định trên, và thời gian được bảo lưu sẽ là 24 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp

      Theo quy định tại Khoản 6 Điều 18 Nghị đinh 28/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp:

      Sau thời hạn 03 tháng kể từ ngày người lao động hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp và không thông báo bằng văn bản với tổ chức bảo hiểm xã hội nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp thì người lao động đó được xác định là không có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp.

      Và thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng với số tiền trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không đến nhận được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.     

      Ví dụ 2: Bà B đóng bảo hiểm thất nghiệp được 12 tháng, đã có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp trong vòng 03 tháng, là từ ngày 16/02/2019 đến ngày 15/5/2019. Tuy nhiên, đến hết ngày 15/8/2019 ( đã hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày hết hạn hưởng TCTN) mà bà B vẫn không đến nhận tiền và cũng không có thông báo bằng văn bản thì được coi là không có nhu cầu hưởng. Và thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp (12 tháng) sẽ được bảo lưu cho lần hưởng trợ cấp tiếp theo. 

Người lao động có những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp

      Theo quy định tại Khoản 7 Điều 8 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp:



 …Người lao động có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 36 tháng thì những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.

      Ví dụ 3: Ông C đủ điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp, có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 40 tháng. Theo quy định của Luật việc làm năm 2013, người lao động đóng đủ từ 12 tháng đến 36 tháng BHTN thì sẽ được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, còn lại những tháng lẻ trên 36 tháng sẽ được bảo lưu. Nên ông C sẽ được hưởng 03 tháng TCTN và 04 tháng còn lại sẽ được bảo lưu cho lần hưởng tiếp theo. 

Các trường hợp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

     Căn cứ tại Khoản 4 Điều 53 Luật việc làm năm 2013 quy định về các trường hợp chấm dứt hưởng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu thời gian hưởng:

Người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thuộc các trường hợp quy định tại các điểm b, c, h, l, m và n khoản 3 Điều này được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện quy định tại Điều 49 của Luật này.

Bảo lưu thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp

Bảo lưu thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp

      Theo quy định tại Khoản này, dẫn chiếu đến Khoản 3 Điều này, các trường hợp được bảo lưu bảo hiểm thất nghiệp bao gồm:

  • Tìm được việc làm;
  • Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;
  • Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;
  • Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
  • Bị tòa án tuyên bố mất tích;
  • Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù.

      Như vậy, đối với các trường hợp nêu trên thì khi chấm dứt hưởng bảo hiểm thất nghiệp sẽ được bảo lưu thời gian hưởng bảo hiểm thất nghiệp.


Phương thức tính thời gian bảo lưu hưởng trợ cấp thất nghiệp

      Căn cứ Khoản 4 Điều 53 Luật Việc làm năm 2013 quy định như sau:

Thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp

      Như vậy, thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp, hoặc tháng lẻ của lần hưởng trước mà chưa hưởng trợ cấp thì sẽ được bảo lưu. Thời gian đã hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ bị trừ đi và được tính như sau: mỗi tháng hưởng tương ứng với 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp.


      Bài viết trên đã tư vấn và giải đáp về vấn đề bảo lưu thời gian hưởng TCTN. Nếu nội dung tư vấn còn chưa rõ, hoặc có thắc mắc cần tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể kết nối tới Tổng đài tư vấn luật Bảo hiểm xã hội qua HOTLINE 19006588 của Luật NQH Việt Nam để được tư vấn trực tiếp.


Bài viết tham khảo




Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of