CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHỦ THỂ NỘP ĐƠN YÊU CẦU MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN

      Trong quá trình hoạt động của một doanh nghiệp, hẳn nhiên sẽ có những bước thăng trầm, có thể là thất bại, thua lỗ. Pháp luật từ lâu quy định nhiều “con đường” mà doanh nghiệp có thể lựa chọn để giải quyết khó khăn, như bán doanh nghiệp, sáp nhập vào doanh nghiệp khác, hay giải thể, tạm đình chỉ hoạt động, phá sản…trong đó phá sản là cách giải quyết đặc biệt hơn cả. Một doanh nghiệp bị phá sản, tức là bị rời khỏi thương trường. Vấn đề phá sản một doanh nghiệp phải được giải quyết một cách thỏa đáng và hợp lý để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, người lao động và cho cả doanh nghiệp. Vì vậy, pháp luật về phá sản đã ra đời, quy định rõ về điều kiện và thủ tục phá sản. Trong đó, vấn đề chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định đầy đủ và tương đối chặt chẽ. Đó là cơ sở để thực hiện vai trò bảo vệ chủ nợ, bảo vệ người lao động, bảo vệ doanh nghiệp của Luật Phá sản. Qua bài phân tích sau đây tổng đài tư vấn Luật NQH chúng tôi xin giải quyết về vấn đề:“Bình luận các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản”


Danh mục tài liệu tham khảo

  • Luật doanh nghiệp năm 2014
  • Luật hợp tác xã năm 2012
  • Luật phá sản năm 2014
  • Luật phá sản năm 2004

Một số khái niệm

      Điều 4 Luật Phá sản 2014:

      “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”.

      “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”

      “Chủ nợ là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ, bao gồm chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ có bảo đảm”

Bình luận các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Các chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

      Luật Phá sản năm 2014 phân các chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thành hai nhóm: Nhóm có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và nhóm có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Nhóm chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu bao gồm: Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần; Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở; Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng; Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã. Những chủ thể bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán bao gồm: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã; Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh.

Các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

      * Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần (khoản 1 điều 5)

      Chủ thể đầu tiên có quyền nộp đơn mở thủ tục phá sản doanh nghiệp là các chủ nợ không có đảm bảo hay có đảm bảo một phần. Chủ nợ của doanh nghiệp là người cho doanh nghiệp vay tài sản thông qua một hợp đồng vay nợ. Theo Điều 4 Luật Phá sản 2014 thì có 3 loại chủ nợ của doanh nghiệp, đó là: chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có đảm bảo đảm.



      “4. Chủ nợ không có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba.

    Chủ nợ có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba.

Chủ nợ có bảo đảm một phần là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó.”

      Về nguyên tắc, các chủ nợ đều bình đẳng như nhau nhưng không phải tất cả các chủ nợ đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chỉ được pháp luật dành cho chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm. Quy định này tạo điều kiện cho các chủ nợ không có sự bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có cơ hội lựa chọn một thủ tục thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Còn chủ nợ có bảo đảm luôn được ưu tiên thanh toán bằng tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, HTX hoặc người thứ ba nên việc quy định quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là không cần thiết.

      Quy định này là không hợp lý, thủ tục phá sản là một phương thức đòi nợ đặc biệt, việc không cho chủ nợ có bảo đảm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đã làm mất đi quyền lựa chọn phương thức đòi nợ hữu hiệu này của chủ nợ có bảo đảm. Việc cho phép các chủ nợ có bảo đảm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sẽ góp phần phát hiện sớm tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp, hợp tác xã, nhờ đó phần nào có thể hạn chế thiệt hại của chủ thể khác nếu có rủi ro xảy ra.

      * Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở (khoản 2 điều 5)

      Người lao động là người đóng góp trực tiếp công sức của mình để duy trì hoạt động của doanh nghiệp. Họ đem sức lao động của mình để trao đổi lấy tiền lương thông qua hợp đồng lao động với doanh nghiệp. Có thể nhận thấy, khi một doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán, không dễ gì để doanh nghiệp đó có thể giải quyết các khoản nợ, bao gồm cả nợ lương của người lao động. Người lao động hầu như không có gì bảo đảm khi bị nợ lương, trong khi sức lao động của họ thì đã đóng góp cho doanh nghiệp. Hơn nữa, tiền lương còn là nguồn thu nhập chính của họ, thậm chí của cả gia đình họ. Ngoài lương, người lao động còn có thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp nợ 3 tháng trở lên bao gồm trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, quyền lợi khác theo ký kết hợp đồng lao động và thỏa ước lao động lao động tập thể đã ký. Vì vậy, sẽ là hợp lý khi quy định cho người lao động có thể tự nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

      Việc cho người lao động có thể tự nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là một bước tiến của Luật Phá sản 2014 so với Luật Phá sản 2004. Luật Phá sản 2004 quy định người lao động thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thông qua người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn mà không được nộp đơn trực tiếp, tức là chỉ có tập thể người lao động mới được nộp đơn yêu cầu phá sản. Luật Phá sản 2014, bên cạnh công đoàn cơ sở, quyền được nộp đơn yêu cầu phá sản còn được trao cho người lao động và công đoàn công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, trong trường hợp công đoàn cơ sở chưa thành lập. Hơn nữa, nó còn cho phép người lao động không cần phải nộp lệ phí khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Quy định của Luật Phá sản 2014 đã bảo vệ quyền và lợi chính đáng của người lao động, những người đã tham gia đóng góp trực tiếp sức lực của mình vào hoạt động của công ty. Tuy nhiên, trên một khía cạnh khác, việc người lao động có thể được trực tiếp nộp đơn yêu cầu cũng ít nhiều gây khó khăn cho doanh nghiệp, hợp tác xã, dễ xảy ra tình trạng đơn yêu cầu không trung thực, vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều 19 Luật Phá sản 2014.

      * Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng (khoản 5 điều 5)

      Cổ đông là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần. Để phù hợp với các quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, đồng thời bảo vệ lợi ích của các cổ đông trong công ty cổ phần, đặc biệt là nhóm cổ đông lớn, Luật Phá sản 2014 quy định cổ đông cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán. Lý do Luật Phá sản 2014 quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông phải đáp ứng điều sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên và phải sở hữu liên tục ít nhất 06 tháng mới được nộp đơn yêu cầu phá sản là nhằm tránh việc các cổ đông nộp đơn tùy tiện, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Các nhà lập pháp cho rằng, những cổ đông hoặc nhóm cổ đông nắm đã đạt đủ điều kiện nêu trên có trách nhiệm cao hơn và nắm rõ hơn hoạt động của công ty. Tuy nhiên, Luật Phá sản 2014 cũng cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ công ty quy định.

      * Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã (khoản 6 điều 5)

      Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra. Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật. Liên hiệp hợp tác xã là tập hợp những hợp tác xã liên kết tự nguyện với nhau. Như vậy, thành viên của hợp tác xã cũng là những người có đóng góp xây dựng hợp tác xã đó. Vì vậy, khi hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, họ cũng là những người có quyền được nộp đơn yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản. Nếu như ở Luật Phá sản 2004, đại diện hợp pháp của hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu phá sản, thì ở Luật Phá sản 2014, đây trở thành một quyền, và quyền đó được trao cho các thành viên hợp tác xã, đại diện của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã. Đây là một điểm mới của pháp luật về phá sản hiện hành, giúp bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của các xã viên. Tuy nhiên, cách quy định như vậy trong Luật Phá sản 2014 cũng gặp phải những hạn chế như việc các xã viên nộp đơn yêu cầu phá sản một cách tùy tiện, gây khó khăn cho hoạt động của hợp tác xã.

chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Các chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

      * Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã (khoản 3 điều 5)

      “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.” Luật quy định việc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán là một nghĩa vụ bắt buộc mà không phải là quyền, không thể lựa chọn có thực hiện hay không. Đây là một quy định hợp lý, là phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp 2014. Vi nó đã gắn nghĩa vụ với những người đại diện hợp pháp, người “thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp”, những người có trách nhiệm hơn cả trong hoạt động của công ty nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của những người có liên quan. Quy định này trong pháp Luật Phá sản hiện hành là một điểm kế thừa từ Khoản 1 Điều15 Luật Phá sản 2004.

      * Người quản lí doanh nghiệp (khoản 4 điều 5)

      Không phải tất cả những người quản lý doanh nghiệp đều có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Theo quy định của Luật Phá sản 2014, chỉ có Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh mới phải thực hiện việc này. Đây là những vị trí, chức danh quan trọng trong công ty, doanh nghiệp. Những người này thường là những người có chịu trách nhiệm cao nhất trong hoạt động của công ty. Trong doanh nghiệp tư nhân, chỉ có một cá nhân duy nhất làm chủ và cá nhân đó chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mìn. Còn công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Hai chủ thể nêu trên này đều là chủ duy nhất của doanh nghiệp, đương nhiên các họ phải có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Tuy nhiên, trong trường hợp chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một tổ chức, pháp luật vẫn chưa có quy định rõ cá nhân nào có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

      Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là những người có trách nhiệm và quyền hạn rất lớn trong hoạt đông của công ty. Việc pháp luật quy định chủ thể này có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là hợp lý. Tuy nhiên pháp luật không cho phép thành viên của công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được thực hiện công việc này mà chỉ có Chủ tịch hội đồng thành viên mới có thể thực hiện. Xét về góc độ chủ sở hữu, thành viên của công ty cũng là những người đã góp vốn vào công ty, họ gắn quyền lợi của mình vào công ty. Sẽ là bất hợp lý, khi công ty lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán mà những thành viên này không được nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản để bảo vệ quyền lợi của mình. Đây là một thiếu sót, bất cập lớn đã tồn tại từ Luật Phá sản 2004 và cho tới nay Luật Phá sản 2014 vẫn chưa khắc phục được. Thiếu đi quy định này, vai trò bảo vệ các chủ nợ và những người có lợi ích chính đáng của pháp Luật Phá sản sẽ giảm đi đáng kể.

      Theo quy định tại Điều 172 Luật Doanh nghiệp 2014, công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có các thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh là thành viên bắt buộc của công ty, họ phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp đồng thời phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Hơn nữa, theo Điều 176 Luật Doanh nghiệp, thành viên hợp danh của công ty hợp danh có quyền trực tiếp tham gia quản lý hoạt động kinh doanh của công ty, tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của công ty, do đó tình hình tài chính của công ty luôn được họ nắm bắt đầu tiên. Vì vậy, họ phải thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán là hoàn toàn hợp lý.

Một số đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật về chủ thể có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

      Thứ nhất là bổ sung thêm quy định cho phép chủ nợ có bảo đảm, thành viên của công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

      Thứ hai là đặt ra thêm các điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp được thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, tránh việc họ thực hiện quyền một cách bừa bãi, gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động của doanh nghiệp.

      Cuối cùng, cần xây dựng một lộ trình để quy định cả sự tham gia của cơ quan quản lý chuyên ngành như Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước… trong việc yêu cầu mở thủ tục phá sản. Vì đây là những cơ quan quản lý hoạt động của doanh nghiệp, nên họ sẽ nắm bắt được những nguy cơ có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và yêu cầu giải thể trước khi lợi ích của các bên liên quan bị ảnh hưởng nặng nề.

      Luật Phá sản 2014 ra đời là một bước tiến lớn của hoạt động lập pháp Việt Nam. Bên cạnh những điểm kế thừa từ Luật Phá sản 2004, quy định về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong Luật mới cũng có những phát triển nhất định. Các chủ thể này một mặt được mở rộng hơn, giúp việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ được bảo đảm hơn theo đúng tinh thần của pháp Luật Phá sản. Tuy nhiên, vẫn còn đó những hạn chế cần phải khắc phục, yêu cầu cần có một lộ trình nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung chuyên sâu và toàn diện.


Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Bình luận các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật qua HOTLINE 19006588 của Luật NQH Việt Nam để được giải đáp.

Trân trọng./.


Một số bài viết có liên quan




Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of
G