CẤU THÀNH VÀ MỨC XỬ PHẠT TỘI DÂM Ô MỚI NHẤT NĂM 2019

      Hiện nay, tình trạng xâm hại tình dục ngày càng gây nhức nhối trong xã hội. Đặc biệt là hành vi xâm hại tình dục đối với trẻ em. Dư luận xã hội đều rất quan tâm, bức xúc đối với các hành vi dâm ô. Để hiểu đúng thế nào là tội dâm ô? Trách nhiệm hình sự của tội dâm ô như thế nào? Luật NQH giúp mọi người hiểu rõ vấn đề này.


Cơ sở pháp lý


Dâm ô là gì?

      Dâm ô là một loại hành vi xâm hại tình dục, hành vi xúc phạm thân thể, nhân phẩm người khác nhưng không nhằm mục đích giao cấu.

      Hành vi dâm ô được coi là tội phạm khi đối tượng của hành vi này hướng tới người dưới 16 tuổi (theo quy định pháp luật hiện hành)

      Theo quy định của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì hành vi dâm ô được quy định thành tội như sau:

Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

e) Tái phạm nguy him.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.


   

Tội dâm ô
Tội dâm ô

Mặt khách quan của tội phạm

      Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm bao gồm những dấu hiệu của tội phạm, diễn ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Mặt khách quan của tội này bao gồm những dấu hiệu sau:

Hành vi khách quan

      Người phạm tội có các hành vi kích dục đối với người dưới 16 tuổi như: sờ, bóp, hoặc dùng các bộ phận nhạy cảm về tình dục (như dương vật) cọ sát vào cơ thể hoặc bộ phận sinh dục của trẻ em. Hoặc buộc trẻ em sờ, bóp, cọ xát… vào những bộ phận kích thích tính dục hoặc bộ phận sinh dục của người phạm tội hoặc của người khác.

Hậu quả

      Hành vi dâm ô xâm phạm đến thân thể, nhân phẩm của người dưới 16 tuổi. Ảnh hưởng đến sức khỏe về cả thể chất và tinh thần của nạn nhân.

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

      Hành vi dâm ô của người phạm tội là một hành vi trái pháp luật, là nguyên nhân tất yếu dẫn đến hậu quả xâm hại thân thể, nhân phẩm của nạn nhân.


Mặt chủ quan của tội phạm

Mục đích của tội Dâm ô với người dưới 16 tuổi

     Mục đích cửa người phạm tội là nhằm thỏa mãn dục vọng của bản thân. Nhưng không nhằm mục đích giao cấu với nạn nhân. Nếu người phạm tội có mục đích giao cấu hoặc đã giao cấu với nạn nhân thì sẽ phạm vào tội khác theo quy định của BLHS như: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, Cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Yếu tố lỗi

      Người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp.


Chủ thể

      Chủ thể tội phạm là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Không


Khách thể của tội phạm

      Hành vi dâm ô đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ về nhân phẩm, thân thể, sức khỏe, tâm lí và sự phát triển bình thường của người dưới 16 tuổi ( trẻ em). Nạn nhân là người dưới 16 tuổi, không phân biệt nam hay nữ.


Hình phạt

      Hình phạt chính của tội dâm ô với người dưới 16 tuổi là hình phạt tù có thời hạn với 03 khung và hình phạt bổ sung, cụ thể như sau:

Hình phạt chính

Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Đây là khung cơ bản, áp dụng cho các hành vi phạm tội có cấu thành cơ bản với mức phạt từ tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

e) Tái phạm nguy him.

  • Phạm tội có tổ chức là: hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
  • Phạm tội 02 lần trở lên: là thực hiện hành vi dâm ô 02 lần trở lên, Mỗi lần phạm tội có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội dâm ô. Đồng thời các lần phạm tội đó chưa lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và còn trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp một người có hành vi dâm ô đối với cùng một trẻ em từ 02 lần trở lên sẽ được coi là phạm tội 02 lần trở lên.
  • Phạm tội đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh: trường hợp này thường thể hiện rõ nhất khi người phạm tội và nạn nhân là người có quan hệ huyết thống, quan hệ ràng buộc về mặt pháp luật… ví dụ như: giáo viên đối với học sinh, bác sĩ đối với bệnh nhân là trẻ em, cũng có thể là ông bà, cha mẹ đối với con cháu…
  • Phạm tội dẫn đến hậu quả: Gây rối loạn về mặt tâm thần và hành vi của nạn nhân ( tình thần của nạn nhân bị đả kích mạnh) mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%. Trường hợp này phải có giám định thương tật của cơ quan chức năng có thẩm quyền.
  • Phạm tội mà có tái phạm nguy hiểm: theo quy định tại Khoản 2 Điều 53 BLHS thì tái phạm nguy hiểm.

      Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

Phạt tù từ 07 năm đến 12 năm

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

      Phạm tội trong trường hợp này thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

Hình phạt bổ sung

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.


      Như vậy, hành vi dâm ô được coi là tội phạm khi thể hiện đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm nêu trên. Nếu không có đầy đủ các yếu tố cấu thành trên đây thì không được coi là phạm tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.


      Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về tội Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.  Nếu nội dung tư vấn còn chưa rõ, có nội dung gây hiểu nhầm hoặc có thắc mắc cần tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể kết nối tới HOTLINE 19006588 của Luật NQH Việt Nam để được Luật sư tư vấn luật hình sự tư vấn trực tiếp.

       Trân trọng./.


 

BẠN CÓ THỂ ĐẶT CÂU HỎI CHO CÁC LUẬT SƯ

avatar
  Subscribe  
Notify of
G

TƯ VẤN NGAY!

Scroll to Top