CHẾ ĐỘ AN SINH XÃ HỘI CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG SUY GIẢM KHẢ NĂNG LAO ĐỘNG LÊN ĐẾN 61%

      Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, an sinh xã hội trở nên rất quan trọng. Đây là hệ thống chính sách, sự bảo vệ của xã hội đối với tất cả các thành viên trong xã hội khi họ gặp khó khăn hoặc bị giảm, mất thu nhập, đồng thời ưu đãi với những người có công với đất nước nhằm mục đích phát triển kinh tế- xã hội. Để tìm hiểu rõ hơn về những chính sách an sinh xã hội, nhóm chúng em xin giải quyết tình huống sau:


Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.
  • Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015.
  • Luật bảo hiểm y tế năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
  • Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
  • Thông tư 15/2016/TT-BLĐTBXH ban hành danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc độc hại nguy hiểm.

TÌNH HUỐNG

      Anh A vào làm việc tại công ty xây dựng X từ năm 2010. Ngày 25/2/2016, trong thời gian làm thêm giờ, không may giàn giáo bị sập khiến anh bị thương phải vào viện điều trị mất 2 tháng. Ra viện, anh được xác định suy giảm 25% khả năng lao động. Tháng 7/2018, vết thương tai nạn tái phát, anh A vào viện điều trị mất 1 tháng. Sau khi ra viện, anh được xác định suy giảm 61% khả năng lao động. Mặc dù mới 53 tuổi nhưng anh làm đơn xin được nghỉ việc và đề nghị được giải quyết chế độ hưu trí.

      Anh (chị) hãy giải quyết các quyền lợi về an sinh xã hội cho anh A theo quy định của pháp luật hiện hành. Được biết thời gian đóng bảo hiểm xã hội của anh A được chốt là 25 năm.


GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

      Những quyền lợi về an sinh xã hội mà anh A được hưởng theo quy định của pháp luật hiện hành bao gồm:

  • Chế độ bảo hiểm y tế;
  • Chế độ tai nạn lao động hưởng một lần;
  • Chế độ ốm đau khi vết thương tai nạn tái phát;
  • Chế độ hưu trí hàng tháng với mức thấp hơn.

      Cụ thể các quyền lợi an sinh xã hội mà anh A được hưởng như sau:

Chế độ bảo hiểm y tế cho người lao động khi bị tai nạn lao động suy giảm khả năng lao động lên đến 61%

      Xác định đối tượng tham gia bảo hiểm y tế:

      Bảo hiểm y tế là một hình thức bảo hiểm mang tính chất bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định tại Điều 12 Luật bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

      Theo tình huống. anh A làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn tại công ty xây dựng X từ năm 2010, vì vậy anh A thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm y tế là người lao động theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 12 Luật bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014):

Điều 12. Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế

Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, bao gồm:

a) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi chung là người lao động).

      Quyền lợi về bảo hiểm y tế của anh A:

      Quyền của người tham gia bảo hiểm y tế được quy định tại Điều 36 Luật bảo hiểm y tế năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014. Theo đó, những quyền lợi về bảo hiểm y tế mà anh A được hưởng bao gồm:

Chế độ an sinh xã hội cho người lao động bị tai nạn lao động

Được cấp thẻ bảo hiểm y tế, được khám bệnh, chữa bệnh, được tổ chức bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế:

      1) Khi anh A bị tai nạn lao động và khi vết thương tai nạn lao động tái phát:

      Ngày 25/2/2016, anh A bị tai nạn lao động và phải vào viện điều trị mất 2 tháng. Tháng 7/2018, vết thương tai nạn tái phát, anh A vào viện điều trị mất 1 tháng. Cả 2 tình huống này anh đều được hưởng bảo hiểm y tế. Mức hưởng bảo hiểm y tế của anh Asẽ được tính theo Khoản 1 Điều 22 Luật bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định về mức hưởng bảo hiểm y tế:

      “Điều 22. Mức hưởng bảo hiểm y tế

  • Người tham gia bảo hiểm y tế khi đi khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại các điều 26, 27 và 28 của Luật này thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng với mức hưởng như sau:
  • a) 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với đối tượng quy định tại các điểm a, d, e, g, h và i khoản 3 Điều 12 của Luật này. Chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoài phạm vi được hưởng bảo hiểm y tế của đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 12 của Luật này được chi trả từ nguồn kinh phí bảo hiểm y tế dành cho khám bệnh, chữa bệnh của nhóm đối tượng này; trường hợp nguồn kinh phí này không đủ thì do ngân sách nhà nước bảo đảm;
  • b) 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp chi phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn mức do Chính phủ quy định và khám bệnh, chữa bệnh tại tuyến xã;
  • c) 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến;
  • d) 95% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 2, điểm k khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều 12 của Luật này;
  • đ) 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với các đối tượng khác”.

      Như vậy, nếu anh A đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:

  • Tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên;
  • Có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh đúng tuyến trong năm 2016 lớn hơn 6 tháng lương cơ sở tương đương: 1.150.000 x 6 = 6.900.000 đồng và trong năm 2018lớn hơn 6 tháng lương cơ sở tương đương: 1.390.000 x 6 = 8.340.000 đồng;
  • Làm đơn yêu cầu được cấp “Giấy chứng nhận không cùng chi trả trong năm”

      thì anh sẽ được hưởng quyền lợi theo điểm c Khoản 1 Điều 22 Luật bảo hiểm y tế 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), đó là: “100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến”.

      Nếu anh A không đáp ứng đủ một trong các điều kiện trên, ví dụ số tiền cùng chi trả khám chữa bệnh trong năm2016 hoặc năm 2018 không lớn hơn 6 tháng lương cơ sở hoặc anh A tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến thì mức hưởng bảo hiểm y tế của anh A sẽ như sau:

       Nếu đúng tuyến, anh A hưởng theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 22 Luật bảo hiểm y tế năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014: “80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với các đối tượng khác”.

      Nếu trái tuyến, anh A hưởng theo quy định tại Khoản 3 Điều 22 Luật bảo hiểm y tế năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014:

      “3. Trường hợp người có thẻ bảo hiểm y tế tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán theo mức hưởng quy định tại khoản 1 Điều này theo tỷ lệ như sau, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này:

      a) Tại bệnh viện tuyến trung ương là 40% chi phí điều trị nội trú;

      b) Tại bệnh viện tuyến tỉnh là 60% chi phí điều trị nội trú từ ngày Luật này có hiệu lực đến ngày 31 tháng 12 năm 2020; 100% chi phí điều trị nội trú từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 trong phạm vi cả nước;

      c) Tại bệnh viện tuyến huyện là 70% chi phí khám bệnh, chữa bệnh từ ngày Luật này có hiệu lực đến ngày 31 tháng 12 năm 2015; 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh từ ngày 01 tháng 01 năm 2016”.

      Như vậy, nếu anh A tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến thì mức bảo hiểm y tế anh A được hưởng như sau:

  • Điều trị nội trú tại bệnh viện tuyến trung ương sẽ được bảo hiểm y tế chi trả 40% chi phí so với mức hưởng khi điều trị đúng tuyến;
  • Điều trị tại bệnh viện tuyến tỉnh là 60% so với mức hưởng khi điều trị đúng tuyến;
  • Khám chữa bệnh tại bệnh viện tuyến huyện là 100%, tương đương với mức hưởng khi điều trị đúng tuyến.

      Tuy nhiên trong trường hợp cấp cứu có giấy chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật cao thì sẽ được coi là điều trị đúng tuyến và được hưởng mức chi trả tương đương như khi điều trị đúng tuyến.

      2) Khi anh A nghỉ hưu:

      Sau khi nghỉ hưu, anh A sẽ được hưởng các quyền lợi về bảo hiểm y tế, cụ thể như sau:

       Nếu anh A đi khám đúng tuyến thì sẽ được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán “95% chi phí khám bệnh, chữa bệnh” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 22 của Luật Bảo hiểm y tế 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

      Nếu anh A đi khám không đúng tuyến thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán theo tỷ lệ như sau đối với chi phí điều trị nội trú: tại bệnh viện tuyến trung ương là 40% so với mức chi trả khi điều trị đúng tuyến; tại bệnh viện tuyến tỉnh là 60% so với mức chi trả khi điều trị đúng tuyến; tại bệnh viện tuyến huyện là 100%, tương đương với mức chi trả khi điều trị đúng tuyến (khoản 3 Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 sửa đi, bổ sung năm 2014).

Chế độ tai nạn lao động cho người lao động khi bị tai nạn lao động suy giảm khả năng lao động lên đến 61%

    Điều kiện hưởng:

      Anh A là người lao động làm việc theo hợp đồng lao động với công ty xây dựng X, thuộc nhóm đối tượng được áp dụng chế độ tai nạn lao động theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015.

      Trong tình huống nêu rõ anh Abị tai nạn lao động, do đó xác định anh A là đối tượng có thể được hưởng chế độ tai nạn lao động nếu đủ các điều kiện khác do pháp luật quy định.

      Căn cứ quy định Điều 45 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 về điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động:

Điều 45. Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động

Người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau đây:

Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh;

b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;

c) Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;

Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này;

Người lao động không được hưởng chế độ do Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chi trả nếu thuộc một trong các nguyên nhân quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này.

      Như vậy, theo quy định trên, người lao động khi tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì được hưởng chế độ tai nạn lao động khi:

      Thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015;

      Bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên;

      Bị tai nạn lao động mà nguyên nhân không thuộc vào một trong các nguyên nhân quy định tại Khoản 1 Điều 40 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015.

      Trong tình huống trên:

      Anh A trong thời gian làm thêm giờ không may bị giàn giáo sập khiến anh bị thương và phải vào viện điều trị 2 tháng. Trường hợp của anh được quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 45 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015.

      Anh A được bệnh viện xác định suy giảm 25% khả năng lao động.

      Nguyên nhân anh A bị tai nạn lao động không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 40 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015.

      Như vậy, anh A đủ điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động theo quy định của pháp luật hiện hành.

    Chế độ hưởng

    Giám định mức độ suy giảm khả năng lao động:

      Đây là chế độ đầu tiên mà người lao động được hưởng khi bị tai nạn lao động và là cơ sở để hưởng các chế độ khác. Chế độ này được quy định tại Điều 47 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 về giám định mức suy giảm khả năng lao động.

    Trợ cấp một lần do tai nạn lao động:

      Anh A được xác định suy giảm 25% khả năng lao động, vì vậy nên theo quy định tại Khoản 1 Điều 48 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015: “Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp 1 lần”, anh được hưởng trợ cấp tai nạn lao động một lần.

      Mức hưởng trợ cấp tai nạn lao động một lần được xác định theo công thức quy định tại Khoản 2 Điều 48 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015, cụ thể như sau:

      Mức trợ cấp một lần do tai nạn lao động = Mức trợ cấp do suy giảm khả năng lao động + Mức trợ cấp theo số năm đóng bảo hiểm tai nạn lao động

      = {5 x Lmin + (m-5) x 0,5 x Lmin} + {0,5 x L + (t-1) x 0,3 x L}

      Trong đó:

      Lmin: mức lương cơ sở tại thời điểm hưởng

      m: mức suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động

      L: mức tiền lương đóng bảo hiểm vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động

      t: tổng số năm đóng bảo hiểm vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động

      Theo tình huống trên:

  • Ngày 25/2/2016, trong thời gian làm thêm giờ, không may giàn giáo bị sập khiến anh A bị thương phải vào viện điều trị mất 2 tháng. Như vậy thời điểm hưởng trợ cấp của anh A là tháng 4/2016.
  • Anh A bị suy giảm 25% khả năng lao động.
  • Anh A có 22 năm đóng bảo hiểm xã hội, vì:

      Tháng 8/2018, anh A làm đơn xin nghỉ việc và đề nghị được giải quyết chế độ hưu trí. Được biết thời gian đóng bảo hiểm xã hội của anh A được chốt là 25 năm. Như vậy, tính đến thời điểm hưởng trợ cấp tai nạn lao động là tháng 4/2016, anh A đã đóng bảo hiểm xã hội được 22 năm 8 tháng. Theo quy định của pháp luật hiện hành, không có quy định cụ thể về việc làm tròn số tháng lẻ để tính hưởng chế độtai nạn lao động. Do vậy, thời gian đóng bảo hiểm có 8 tháng lẻ của anh A sẽ không được làm tròn và anh A được xác định có 22 năm đóng bảo hiểm tai nạn lao động trong trường hợp này.

      Mức lương cơ sở tại thời điểm anh A hưởng trợ cấp (trước 01/05/2016) là 1.150.000đtheo quy định tại Nghị định 66/2013/NĐ-CP.

      Áp dụng công thức trên:

      Mức trợ cấp do suy giảm khả năng lao động là: 5 x 1.150.000 + (25 – 5) x 0,5 x 1.150.000 = 17.250.000 đồng.

      Mức trợ cấp theo số năm đóng bảo hiểm tai nạn lao động là: 0.5 x lương tháng+ (22-1) x 0,3 x lương tháng = 6.8 tháng lương.

      Như vậy, mức trợ cấp một lần do tai nạn lao động mà anh A sẽ được hưởng bao gồm: 17.250.000 đồng và 6.8 tháng lương.

      Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị tai nạn lao động:

      Ngoài hai chế độ giám định mức độ suy giảm khả năng lao động và trợ cấp một lần do suy giảm khả năng lao động, anh A còn có thể được hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị tai nạn lao động.

      Chế độ này được quy định tại Điều 54 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015, theo đó:

      Sau khi điều trị ổn định tai nạn lao động, trong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.

      Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe do phía công ty và Ban chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, tối đa là 05 ngày làm việc đối với trường hợp suy giảm 25% khả năng lao động.

      Mức hưởng 01 ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

      Như vậy, anh Acó thể được hưởng tối đa: 05 (ngày) x 0.3 x 1.150.000 = 1.725.000 đồng.

    Phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình:

      Ngoài ra, anh A còn có thể được hỗ trợ khoản tiền để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình. Căn cứ Khoản 1 Điều 55 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định về phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình:

“Điều 51. Phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình

  1. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp tiền để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật và theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng bảo đảm yêu cầu, điều kiện chuyên môn, kỹ thuật”.

      Theo quy định trên, nếu anh A bị tai nạn lao động mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp tiền để mua các phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình theo niên hạn căn cứ vào tình trạng thương tật, bệnh tật và theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng bảo đảm yêu cầu, điều kiện chuyên môn, kỹ thuật.

Chế độ ốm đau cho người lao động khi bị tai nạn lao động suy giảm khả năng lao động lên đến 61%

      Điều kiện hưởng:

      Anh A là người lao động làm việc theo hợp đồng lao động với công ty xây dựng X, thuộc nhóm đối tượng được áp dụng chế độ ốm đau theo quy định tại Điều 24 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.

      Theo tình huống, tháng 7/2018, do vết thương tai nạn lao động tái phát, anh A phải vào viện điều trị 1 tháng. Trong trường hợp này, anh A được hưởng chế độ ốm đau. Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 3 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, điều kiện hưởng chế độ ốm đau bao gồm:

Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, đ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 2 của Nghị định số 115/2015/NĐ-CP được hưởng chế độ ốm đau trong các trường hợp sau:

a) Người lao động bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động hoặc điều trị thương tật, bệnh tật tái phát do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế.

      Căn cứ vào quy định trên, người lao động điều trị thương tật tái phát do tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thuộc trường hợp được giải quyết chế độ ốm đau. Như vậy, trong trường hợp này, anh A được hưởng chế độ ốm đau khi vào viện điều trị tai nạn lao động tái phát.

    Chế độ hưởng:

    Thời gian hưởng chế độ ốm đau: anh A được nghỉ tối đa 40 ngày không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, nghỉ hàng tuần theo quy định của pháp luật về lao động.

      Theo tình huống trên:

      Trường hợp của anh A thuộc trường hợp điều trị không mắc bệnh dài ngày vì không nằm trong Danh mục bênh cần điều trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành nên sẽ không được hưởng thời gian của trường hợp nghỉ việc điều trị bệnh dài ngày tại Khoản 2, Điều 26, Luật bảo hiểm xã hội 2014.

      Công việc của anh A không thuộc danh sách trong Thông tư 15/2016/TT-BLĐTBXH ban hành danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc độc hại nguy hiểm, vì vậy nên anh A sẽ không đươc hưởng thời gian quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 26, Luật bảo hiểm xã hội 2014.

      Tính đến tháng 7/2018, tức 1 tháng trước khi nghỉ hưu,anh A đã đóng bảo hiểm xã hội được khoảng 25 năm.

      Như vậy, trường hợp của anh A thuộc điểm a, khoản 1 Điều 26 Luật bảo hiểm xã hội 2014: “Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng 30 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm; 40 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 60 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên”, cụ thể anh A được nghỉ tối đa 40 ngày không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, nghỉ hàng tuần theo quy định của pháp luật về lao động.

       Mức hưởng chế độ ốm đau:

      Như đã trình bày ở trên, anh A thuộc đối tượng điều trị không mắc bệnh dài ngày, được hưởng mức hưởng chế độ ốm đau theoquy định tại Khoản 1 Điều 28 Luật bảo hiểm xã hội 2014:

Điều 28. Mức hưởng chế độ ốm đau

Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 26, Điều 27 của Luật này thì mức hưởng tính theo tháng bằng 75% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

      Anh A điều trị viết thương tai nạn lao động tái phát từ tháng 7/2018 đến tháng 8/2018, trong khoảng thời gian này không có ngày nghỉ lễ nào. Giả sử ngày nghỉ hàng tuần của công ty là ngày chủ nhật, thời gian nghỉ của anh A có 4 ngày chủ nhật thì số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau của anh A trên thực tế là 26 ngày, phù hợp với khoảng thời gian theo quy định của pháp luật.

Chế độ hưu trí cho người lao động khi bị tai nạn lao động suy giảm khả năng lao động lên đến 61%

    Điều kiện hưởng:

      Anh A làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn với công ty X nên theo điểm a Khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội 2014, anh A thuộc đối tượng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Vì vậy anh A sẽ được hưởng chế độ hưu trí theo bảo hiểm xã hội bắt buộc.

      Thời gian đóng bảo hiểm xã hội của anh A là 25 năm. Như vậy, anh A đủ điều kiệnvề thời gian đóng bảo hiểm xã hội để được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng (Người lao động có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên).

      Mặc dù anh A đã có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên, nhưng chưa đủ số tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật (60 tuổi đối với lao động nam) do vết thương tai nạn lao động tái phát, anh A được xác định suy giảm 61% khả năng lao động và anh quyết định làm đơn xin nghỉ việc tại tuổi 53.

      Trường hợp của anh A được xác định là trường hợp người lao động khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng, quy định cụ thể tại điểm a Khoản 1 Điều 55 Luật bảo hiểm xã hội 2014:

Điều 55. Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động

Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật này khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 54 của Luật này nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động. Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

      Như vậy, đến năm 2018 thì số tuổi đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí với mức thấp hơn đối với nam sẽ là 53 tuổi, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên. Do đó, anh A hoàn toàn đáp ứng được đủ điều kiện để hưởng lương hưu với mức thấp hơn.

      Kết luận lại, anh A được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng với mức thấp hơn hay nói cách khác anh A được hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động theo quy định tại Điều 55 Luật bảo hiểm xã hội 2014.

    Chế độ hưởng:

      Do anh A nghỉ hưu khi suy giảm khả năng lao động nên mức lương hưu sẽ được tính theoquy định tại khoản 3 Điều 56 Luật bảo hiểm xã hội 2014:

      “3. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 55 của Luật này được tính như quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%. Trường hợp tuổi nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 06 tháng thì mức giảm là 1%, từ trên 06 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm do nghỉ hưu trước tuổi”.

      Theo tình huống, anh A nghỉ hưu vào cuối năm 2018 nên cách tính mức hưởng lương hưu sẽ áp dụng tương tự như quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 56 Luật bảo hiểm xã hội 2014:

2. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này và tương ứng với số năm đóng bảo hiểm xã hội như sau:

a) Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm.

      Áp dụng vào tình huống:

      16 năm đầu được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

      Từ năm thứ 17 đến năm thứ 25 là 9 năm, tương ứng với 9×2%=18% mức bình quân tiền lương đóng bảo hiểm xã hội.

      Anh A nghỉ hưu lúc 53 tuổi, trước tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật là 7 năm, nên tỉ lệ hưởng lương hưu tính giảm là 7×2%=14%.

      Như vậy, mức hưởng lương hưu hằng tháng của anh A là: 45% + 18% – 14% = 49% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

      Có rất nhiều những nguyên nhân khác nhau khiến cho không ít người rơi vào hoàn cảnh bất lợi, khó có điều kiện tồn tại và cơ hội để phát triển. Vì vậy, sự chung tay giúp đỡ của cộng đồng là vô cùng cần thiết. Xã hội muốn phát triển thì đòi hỏi nhu cầu về an sinh phải được đáp ứng một cách đầy đủ nhất.


     Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Chế độ an sinh xã hội cho người lao động khi bị tai nạn lao động suy giảm khả năng lao động lên đến 61%. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

      Trân trọng./.


 

Đánh giá post

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *