CHẾ TÀI ĐỐI VỚI TỘI PHẠM ĐƯA HỐI LỘ THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015

      A là cán bộ hải quan, nhiều lần nhận tiền của B rồi để mặc cho B vận chuyển trái phép hàng hóa với số lượng lớn qua biên giới nhằm bán kiếm lời. Tổng số tiền A đã nhận của B là 120 triệu đồng. B đã bị kết án về tội buôn lậu và tội đưa hối lộ. Hành vi phạm tội của A được Cơ quan điều tra tách riêng (và chuẩn bị xét xử) cùng một số hành vi phạm tội khác mà A đã thực hiện trước và sau vụ nhận tiền của B.

      Qua bài phân tích sau đây tổng đài tư vấn Luật Quang Huy chúng tôi xin giải quyết về vấn đề:

  • Tội đưa hối lộ mà B thực hiện theo tình huống nêu trên thuộc loại tội phạm nào theo cách phân loại tại Điều 9 BLHS năm 2015?
  • A có bị coi là đồng phạm với B về tội buôn lậu không? Tại sao?
  • Giả định theo tình huống nêu trên, trong một lần đưa hàng qua biên giới B đã giấu trong lô hàng 2 kg nhựa thuốc phiện để bán kiếm lời. B bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS năm 2015) thì A có bị coi là đồng phạm với B về tội này không? Tại sao?

Danh mục tài liệu tham khảo

  • Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập I, Nxb. CAND, Hà Nội, 2014;
  • Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật hình sự (Phần chung), Nxb. ĐHQG, Hà Nội, 2005;
  • Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017

Tội đưa hối lộ mà B thực hiện theo tình huống nêu trên thuộc loại tội phạm nào theo cách phân loại tại Điều 9 BLHS năm 2015?

      Để xác định loại tội phạm tội đưa hối lộ mà B thực hiện, ta cần dựa vào các căn cứ pháp lý sau:

      Điều 9 BLHS 2015

      Điều 364 BLHS 2015

      Theo đó, Khoản 1 Điều 9 quy định:

      “1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

      a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

      b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

      c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

      d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”

      Như vậy, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tội phạm được phân thành 04 loại là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Và dựa vào mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt đối với tội cụ thể mà ta có thể xác định đó là loại tội gì.

      Trường hợp cụ thể của B về tội đưa hối lộ:

      B có hành vi đưa tiền cho A (là cán bộ hải quan) để A không thực hiện nhiệm vụ của mình, nhằm mục đích cho B có thể vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới bán kiếm lời.

      Hành vi đưa tiền của B được thực hiện nhiều lần (02 lần trở lên)

      Tổng số tiền B đưa cho A là 120 triệu đồng.

      Như vậy, có thể thấy hành vi phạm tội của B được quy định tại Khoản 2 Điều 364:

      “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

      a) Có tổ chức;

      b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

      c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;

      d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

      đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

      e) Của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”

      Mức cao nhất của khung hình phạt được quy định tại điều này là 07 năm tù.Từ các phân tích trên ta có thể xác định loại tội của B trong tội đưa hối lộ là tội phạm nghiêm trọng.

Chế tài đối với tội phạm đưa hối lộ theo bộ luật hình sự 2015
Chế tài đối với tội phạm đưa hối lộ theo bộ luật hình sự 2015

A có bị coi là đồng phạm với B về tội buôn lậu không? Tại sao?

      Căn cứ pháp lý: Điều 17 BLHS 2015 quy định

      “1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

  1. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
  2. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

      Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

      Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

      Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

      Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

      Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành”

      Để xác định A có phải là đồng phạm với B về tội buôn lậu không, ta cần làm rõ:

  • Về mặt khách quan:

      *Căn cứ vào số lượng người trong vụ án: Điều 17 BLHS năm 2015 quy định trong vụ án đồng phạm phải có từ hai người trở lên, những người này đều phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Trong trường hợp này, A và B đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của bộ luật hình sự.

      *Căn cứ vào tính liên kết về hành vi:

      Những người trong vụ án đồng phạm phải cùng nhau thực hiện một tội phạm. Cùng thực hiện một tội phạm nghĩa là người đồng phạm phải tham gia vào tội phạm với một trong bốn hành vi: thực hiện tội phạm, tổ chức thực hiện tội phạm, xúi giục người khác thực hiện tội phạm hoặc giúp sức người khác thực hiện tội phạm. A đã có hành vi giúp sức về tinh thần dưới dạng không hành động, mặc dù nghĩa vụ pháp lí của A là phải hành động bằng cách “để mặc cho B vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”, qua đó đã loại bỏ trở ngại khách quan ngăn cản hành vi phạm tội của B, còn B là người thực hiện tội phạm với hành vi “vận chuyển trái phép hàng qua biên giới nhằm bán kiếm lời”. Như vậy có thể coi A và B cùng nhau thực hiện một tội phạm.

      Hành vi của người đồng phạm này liên kết chặt chẽ với hành vi của người đồng phạm kia, nói cách khác hành vi của đồng phạm này là tiền đề cho hành vi của đồng phạm kia. Hành vi của tất cả những người trong vụ án đồng phạm đều là nguyên nhân dẫn đến hậu quả tác hại chung của tội phạm. Ở đây, hành vi của A và B liên kết chặt chẽ với nhau, cụ thể A đã để mặc cho B vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới, qua đó đã loại trừ trở ngại khách quan ngăn cản việc thực hiện tội phạm, tạo điều kiện cho B thực hiện hành vi buôn lậu.

      *Căn cứ vào hậu quả tác hại: Hậu quả tác hại do tội phạm gây ra trong vụ án đồng phạm là hậu quả chung do toàn bộ những người đồng phạm gây ra. Hành vi của mỗi người trong vụ án đều là nguyên nhân gây ra hậu quả chung ấy, mặc dù có người trực tiếp, người gián tiếp gây ra hậu quả tác hại. Đây là đặc điểm về quan hệ nhân quả trong vụ án đồng phạm. Buôn lậu sẽ gây thiệt hại trực tiếp cho Nhà nước do không kiểm soát được hàng hoá xuất nhập khẩu, gây thất thoát thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu hàng hoá. Hành vi vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới nhằm bán kiếm lời của B là hành vi trực tiếp gây thất thu thuế, còn hành vi để mặc cho B vận chuyển hàng trái phép của A là nguyên nhân gián tiếp gây ra thiệt hại cho nhà nươc về thuế.

  • Về mặt chủ quan:

      Tất cả những người trong vụ án đồng phạm phải có hình thức lỗi cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Tất cả họ đều thấy rõ hành vi của toàn bộ những người trong vụ án đều nguy hiểm cho xã hội. Mỗi người đồng phạm đều thấy trước hành vi của mình và hành vi của người đồng phạm khác trong vụ án đồng phạm là nguy hiểm, thấy trước hành vi của tất cả những người đồng phạm đều là nguyên nhân dẫn đến hậu quả tác hại. Cả A và B cố ý thực hiện hành vi của mình, đều có thể thấy rõ được hành vi của mình và cả của người kia sẽ gây nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân gây đến sự thất thoát về thuế cho nhà nước.

      Như vậy có thể xác định rằng A là đồng phạm với B về tội buôn lậu do đã thỏa mãn các dấu hiệu của đồng phạm.

Giả định theo tình huống nêu trên, trong một lần đưa hàng qua biên giới B đã giấu trong lô hàng 2 kg nhựa thuốc phiện để bán kiếm lời. B bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS năm 2015) thì A có bị coi là đồng phạm với B về tội này không? Tại sao?

      Tương tự câu 2, để xác định A có phải đồng phạm với B trong tội buôn bán trái phép chất ma túy không, ta cần làm rõ:

      Về khách quan

      Cả A và B đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS

      Căn cứ vào tính liên kết hành vi:

      A và B không cùng thực hiện hành vi buôn bán trái phép chất ma túy. Hành vi giúp sức của A chỉ là hành vi giúp sức cho tội buôn lậu, không phải giúp sức cho hành vi buôn bán trái phép chất ma túy do A không biết B giấu nhựa thuốc phiện trong lô hàng.

      A đã có hành vi để mặc cho B vận chuyển hàng hóa qua biên giới, đây có thể coi là tiền đề cho hành vi buôn bán trái phép chất ma túy của B, tuy nhiên đó không được coi là có tính liên kết chặt chẽ với hành vi buôn bán trái phép chất ma túy của B do không biết B giấu nhựa thuốc phiện trong lô hàng.

      *Căn cứ vào hậu quả tác hại: Hậu quả do cả A và B gây ra. Hành vi của mỗi người trong vụ án là nguyên nhân gây ra hậu quả chung ấy, mặc dù có người trực tiếp, người gián tiếp gây ra hậu quả. Hành vi của A đã loại bỏ trở ngại khách quan cho hành vi phạm tội của B, do đó gián tiếp gây ra hậu quả

      Về chủ quan:

      Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những người đồng phạm khác. Trong trường hợp này A không biết B giấu nhựa thuốc phiện trong lô hàng nên không thể xác định rằng A có lỗi cố ý với hành vi buôn bán trái phép chất ma túy của B.

      Như vậy, do A không biết B giấu nhựa thuốc phiện trong lô hàng nên A không phải là đồng phạm của B về tội buôn bán trái phép chất ma túy.


      Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Hình thức dân chủ trực tiếp qua quyền cơ bản của công dân trong hiến pháp 2013. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

      Trân trọng./.


 

Bài viết liên quan bạn nên xem
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
G