CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN THẾ NÀO – LUẬT NQH VIỆT NAM

      Hôn nhân hạnh phúc và bền chặt luôn cần dựa trên cơ sở tình yêu chân chính của hai bên nam nữ. Thế nhưng, vấn đề tài sản chung của vợ chồng cũng là vô cùng quan trọng và rất được vợ chồng quan tâm, đặc biệt là khi tình trạng hôn nhân trầm trọng mà buộc vợ chồng phải đi đến quyết định ly hôn. Khi đó, việc chia tài sản chung của vợ chồng như thế nào để đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên không phải là điều dễ dàng. Nhận thấy những khó khăn đó, Luật NQH Việt Nam hướng dẫn cho quý khách hàng cách thức chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn để giải quyết những vướng mắc đó.


Cơ sở pháp lý


Xác định tài sản chung của vợ chồng như thế nào?

      Để tiến hành việc chia tài sản chung khi vợ chồng ly hôn, trước tiên cần xác định được tài sản chung của vợ chồng.

      Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về xác định tài sản chung thì căn cứ vào sự thỏa thuận đó để xem xét tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng để tiến hành chia tài sản.

      Trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận về tài sản chung và áp dụng chế độ tài sản theo luật định thì việc xác định tài sản chung được thực hiện trên cơ sở quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ở đó quy định tài sản chung như sau:

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Tham khảo thêm: Tài sản thừa kế có phải chia khi ly hôn hay không?

      Căn cứ quy định trên thì tài sản chung của vợ chồng được xác định bao gồm các tài sản sau đây:

  • Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân;
  • Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân,
  • Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung;
  • Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

      Trong trường hợp một bên cho rằng tài sản là của riêng mình thì cần đưa ra chứng cứ chứng minh. Nếu không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của vợ hoặc chồng thì tài sản đó được coi là tài sản chung của vợ chồng.


Chia tài sản chung trong trường hợp áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận 

      Để đảm bảo quyền lợi cho hai bên vợ chồng và con, pháp luật quy định về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rất rõ về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết

Chia tài sản chung của vợ chồng

Chia tài sản chung của vợ chồng

      Theo đó, việc chia tài sản khi vợ chồng ly hôn được thực hiện theo sự thỏa thuận đã xác lập khi lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận vào thời điểm đăng ký kết hôn.

      Trong trường hợp thỏa thuận đã xác lập không đầy đủ, rõ ràng khiến cho việc chia tài sản không đảm bảo quyền lợi cho hai bên vợ chồng thì việc chia tài sản áp dụng theo quy định chung của pháp luật. Khi đó, nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng cho mỗi bên sẽ được áp dụng, nhưng có tính đến một số yếu tố sau đây để đảm bảo quyền lợi bình đẳng cho các bên:

  • Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng, con;
  • Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Trong đó, lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi là lao động có thu nhập;
  • Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
  • Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng dẫn tới việc vợ chồng phải ly hôn.

      Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nhưng phải đảm bảo giữ được giá trị và giá trị sử dụng của tài sản. Trong trường hợp tài sản không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị. Bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch để đảm bảo sự bình đẳng về quyền của hai bên vợ chồng.


Chia tài sản chung trong trường hợp áp dụng chế độ tài sản theo luật định

      Trường hợp áp dụng chế độ tài sản theo luật định, việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau: 

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này. 

      Như vậy, cũng giống như trường hợp áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận, để đảm bảo quyền lợi cho hai bên thì pháp luật quy định vợ chồng có quyền thỏa thuận để giải quyết việc chia tài sản chung. 

      Trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của một trong hai bên hoặc cả hai vợ chồng, Tòa án sẽ tiến hành chia tài sản chung của vợ chồng căn cứ quy định của pháp luật.  Khi đó, việc chia tài sản được thực hiện tương tự như trường hợp áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận mà sự thỏa thuận đó không rõ ràng, không đầy đủ khiến việc chia tài sản không thực hiện được theo thỏa thuận đã xác lập.

      Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, và cũng tính đến một số yếu tố sau đây:

  • Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng, con;
  • Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Trong đó, lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi là lao động có thu nhập;
  • Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
  • Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng dẫn tới việc vợ chồng phải ly hôn.

      Việc chia tài sản của vợ chồng ngoài việc đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mỗi bên thì cũng cần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.


      Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về thắc mắc của bạn liên quan tới việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Nếu còn chưa rõ hoặc có thắc mắc khác cần giải đáp trực tiếp bạn có thể liên hệ Tổng đài tư vấn phân chia tài sản khi ly hôn trực tuyến 24h qua HOTLINE 19006588 của Luật NQH Việt Nam

      Trân trọng./.


Bạn có thể tham khảo bài viết:

 

 




Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of