CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG: THỰC TRẠNG, VẤN ĐỀ VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA CHO GIAI ĐOẠN 2011 – 2015

      Chính sách tiền lương là một trong những nội dung quan trọng của thể chế kinh tế thị trường. Do đó hoàn thiện chính sách tiền lương sẽ góp phần to lớn hoàn thiện thể chế kinh  tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Tuy nhiên, Chính sách tiền lương là vấn đề rất  tổng hợp, có nhiều mối quan hệ chính trị, kinh tế – xã hội tương tác chặt chẽ với nhau, liên  quan đến vấn đề sở hữu, phân bố nguồn lực, quan hệ giữa tích lũy và tiêu dung, phát triển  nguồn nhân lực, an sinh xã hội…

       Trong kinh tế thị trường, chính sách tiền lương quốc gia cần phải tách bạch giữa các  khu vực: sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp), hành chính nhà nước và sự nghiệp cung cấp  dịch vụ công.


Danh mục tài liệu tham khảo

  • Nguyễn Hữu Dũng Viện Khoa học Lao động và Xã hội 1. Nhận thức cơ bản về chính sách tiền lương trong kinh tế thị trường

Khu vực sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp)

      Tiền lương trong khu vực sản xuất kinh doanh (các loại hình doanh nghiệp) là yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh, nhưng được phân phối theo kết quả đầu ra, phụ thuộc vào  năng suất cá nhân, hiệu quả sản  xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

      Tiền lương trả cho người lao động phải tương xứng với sự đóng góp của lao động  (hay trả đúng giá trị sức lao động) tùy theo (hay phụ thuộc vào) năng suất lao động của  từng cá nhân (hay thành tích của từng cá nhân). Đây là vấn đề có tính chất nguyên tắc, là  chuẩn mực cao nhất của chính sách tiền lương trong khu vực sản xuất kinh doanh (doanh  nghiệp).

      Ở tầm vĩ mô, chính sách tiền lương phải đặt trong tổng thể chính sách việc làm và  gắn với việc làm; do thị trường quyết định bằng sự điều tiết khách quan của quy luật thị trường, phụ thuộc vào quan hệ cung – cầu lao động trên thị trường lao động; được xác định  thông qua cơ chế thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động, đảm bảo hài hòa lợi ích  giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước; đồng thời có sự quản lý, điều  tiết của Nhà nước để đảm bảo mục tiêu phát triển chung và lợi ích của quốc gia, của cộng  đồng.

Khu vực hành chính nhà nước

      Công chức khu vực hành chính nhà nước là những người làm việc trong hệ thống  hành chính quốc gia, có chức năng quản lý, thực thi công vụ với tính chất lao động rất đặc  biệt, đòi hỏi trình độ cao hơn so với đội ngũ lao động nói chung trong xã hội, lao động trí  tuệ là chủ yếu và có phạm vi ảnh hưởng rộng , trách nhiệm chính trị rất cao và sống chủ yếu bằng tiền lương, đồng thời việc làm được bảo đảm ổn định, có quyền lực và danh dự tương ứng với từng chức danh, vị trí công tác. Nguồn tiền lương trả cho công chức là từ ngân sách nhà nước theo một chính sách do nhà nước quy định.

     Chức năng, nhiệm vụ của công chức là thực thi công vụ được phân công trong hệ  thống hành chính nhà nước. Do đó, tiền lương của công chức phải được trả theo vị trí công  việc trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh công chức và hiệu quả thực thi công vụ. Tiên lương  trả cho công chức phải được tính đúng, tính đủ chí phí lao động và chú ý đến đặc điểm đặc  thù của lao động công chức.

     Thực thi công vụ là chức năng, nhiệm vụ cụ thể của công chức và được trả lương.  Tuy nhiên, để triển khai hoạt động quản lý nhà nước cũng cần những chi phí có tính chất  hành chính. Chi tiêu hành chính cho công vụ hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng của ngân  sách. Hiện nay tiền lương, thu nhập công chức và chi hành chính được kết cấu trong chi  thường xuyên từ ngân sách. Vấn đề đặt ra ở đây là phải làm rõ kết cấu tiền lương, thu nhập  của công chức và các khoản chi hành chính để tránh lẫn lộn, sử dụng các khoản tiết kiệm  chi ngân sách hoặc chi ngân sách thông qua thực thi công vụ để bổ sung cho tiền lương và  thu nhập công chức. Đây là vấn đề mà thực thực tiễn đang diễn ra khá phổ biến.

     Công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, là cơ quan quyền lực  chi phối toàn bộ hoạt động xã hội. Trong kinh tế thị trường, tiền lương và thu nhập của  công chức mặc dù do nhà nước trả từ ngân sách, song chính sách tiền lương công chức  phải đặt trong mối tương quan với mặt bằng tiền lương, thu nhập khu vực thị trường. Nếu  không thỏa mãn quan hệ này sẽ dẫn đế hội chứng “ tước đoạt để bù đắp tiền lương” trong  thực thi công vụ (tiêu cực, tham nhũng), can thiệp hành chính vào thị trường của các nhóm  lợi ích để “ đòi chia sẻ lợi ích”, làm lũng đoạn, méo mó thị trường và tăng dòng “chảy máu  chất xám” tư khu vực hành chính nhà nước ra khu vực thị trường, nơi có tiền lương và thu  nhập cao hơn.

      Khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công

     Dịch vụ công (public service) là những dịch vụ có tính chất công cộng mà Nhà nước  phải có trách nhiệm tổ chức cung cấp để phục vụ cho nhu cầu chung cần thiết cho cuộc  sống cộng đồng, đảm bảo an toàn xã hội và không vì mục tiêu lợi nhuận. Điều này có  nghĩa là trách nhiệm chính trong tổ chức cung cấp dịch vụ công thuộc về Nhà nước. Tuy  nhiên, việc cung cấp dịch vụ công cụ thể có thể do Nhà nước trực tiếp làm hoặc do các đối  tác xã hội làm theo pháp luật quy định và sự hướng dẫn, giám sát, quản lý của Nhà nước.

     Trong khu vực này, chi phí tiền lương cho người lao động cung cấp dịch vụ được tính  đúng, tính đủ trong chi phí dịch vụ. Các tổ chức sự nghiệp cung cấp dịch vụ là đơn vị sự nghiệp hoạt động tự chủ, không vì mục tiêu lợi nhuận, được nhà nước mua dịch vụ hoặc  người thụ hưởng dịch vụ trả trên cơ sở giá dịch vụ hoặc phí dịch vụ. Do đó, tiền lương của  người lao động phải được trả theo mức đóng góp của lao động và chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ.


Đánh giá khái quát thực trạng chính sách tiền lương hiện nay ở nước ta

Mặt ưu điểm của chính sách tiền lương

      Chính sách tiền lương sau nhiều lần cải cách, nhất là từ lần cải cách chính sách tiền  lương năm 1993 đến nay, đã từng bước đổi mới theo hướng thị trường. Cụ thể là:

      Đã ngày càng quán triệt hơn quan điểm cải cách chính sách tiền lương theo định  hướng thị trường và đảm bảo công bằng xã hội trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong từng giai đoạn phát triển; đặc biệt quan điểm coi việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực để phát  triển kinh tế và nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch và nâng cao  hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Bộ máy Nhà nước.

     Tách dần tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành chính nhà  nước và khu vực sự nghiệp cung cấp dich vụ công, chính sách tiền lương với chính sách  bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công. Mỗi khu vực có chính sách và cơ chế tiền lương  phù hợp. Đó là bước tiến rất quan trọng trong chính sách tiền lương trong điều kiện mới.

     Từng bước đổi mới chính sách tiền lương theo định hướng thị trường, nhất là  trong khu vực sản xuất kinh doanh, từng bước tính đúng, tính đủ tiền lương theo nguyên  tắc theo thị trường, chống bình quân, cào bằng. Trong các loại hình doanh nghiệp, tiền  lương được coi là giá cả sức lao động, hình thành trên cơ sở mặt bằng tiền lương trên thị trường và bước đầu được xác định thông qua thoả thuận giữa ngươi lao động và người sử dụng lao động để ký kết hợp đồng lao động cá nhân và thoả ước lao động tập thể.

     Đổi mới hơn cơ chế tiền lương, mở rộng và làm rõ trách nhiệm, quyền tự chủ của  đơn vị, doanh nghiệp trong việc xếp lương, trả lương gắn với năng suất lao động, chất  lượng và hiệu quả.

     Tiền lương và thu nhập của người làm công ăn lương có xu hướng tăng từ 10 – 20%/năm, đảm bảo ổn định đời sống và có phần được cải thiện.

Tồn tại và bức xúc

a. Quan điểm, chủ trương về cải cách chính sách tiền lương của Đảng là đúng, phù  hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhưng việc thể chế hoá chưa đầy đủ và  thực hiện chưa nghiêm. Cơ chế phân phối tiền lương đổi mới chậm, không theo kịp cơ chế quản lý kinh tế trong kinh tế thị trường nên chưa tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng  trưởng kinh tế; nhất là tiền lương tối thiểu chung còn thấp, bị ràng buộc tự động với nhiều  chính sách xã hội khác và bị chi phối bởi ngân sách nhà nước.

Phân phối tiền lương và thu nhập trong khu vực sản xuất kinh doanh chưa phản ánh đúng thực chất quan hệ phân phối công bằng trong kinh tế thị trường, cụ thể:

  • Trong kinh tế thị trường, Nhà nước quy định mức lương tối thiểu làm cơ sở cho các bên trong doanh nghiệp thoả thuận về tiền lương, nhưng các mức này lại quy định còn  thấp và khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp.
  •  Cơ chế phân phối tiền lương và thu nhập còn có sự khác nhau giữa các loại hình  doanh nghiệp; hiện nay ở nước ta đang tồn tại 3 cơ chế phân phối tiền lương khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp ( DNNN, DNĐTNN, DNTN), chưa phù hợp với kinh tế thị trường. Tiền lương và thu nhập của người lao động chưa gắn chặt với năng suất, hiệu  quả kinh tế, kết quả sản xuất kinh doanh; tiền lương chưa trở thành động lực mạnh mẽ thúc  đẩy nâng cao năng suất lao động, khuyến khích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực …

     Trên thực tế, phân phối tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp chưa phản ánh  đúng thực chất quan hệ phân phối công bằng trong kinh tế thị trường. Chính sách phân  phối tiền lương trong DNNN còn nhiều bất hợp lý, nhất là còn bao cấp, chưa tách được yếu  tố lợi thế so sánh và xóa độc quyền đối với DNNN, đồng thời chưa đảm bảo DNNN tham  gia dầy đủ vào thị trường.

Chính sách tiền lương

     Cơ chế thương lượng, thoả thuận về tiền lương chưa đảm bảo đúng nguyên tắc thị trường và phát huy được tác dụng, còn hình thức. Khi xảy ra tranh chấp về tiền lương  thường không qua bước thương lượng, thoả thuận mà đi thẳng đến đình công, dẫn đến đình  công tự phát có xu hướng gia tăng.

Phân phối tiền lương và thu nhập trong khu vực hành chính nhà nước và khu vực  sư nghiệp cung cấp dịch vụ công còn nhiều bất cập, cụ thể

      Tiền lương của cán bộ công chức, viên chức bị dàng buộc và chi phối mạnh của  Ngân sách Nhà nước, nên cũng rất thấp và thấp hơn khu vực sản xuất kinh doanh, chưa  bảo đảm cho cán bộ, công chức, viên chức sống chủ yếu bằng tiền lương; thu nhập ngoài  lương lớn, là một trong những nguyên nhân của tiêu cực, tham nhũng; quan hệ tiền lương  chưa hợp lý, các mức lương theo hệ số tiền lương gắn quá chặt với tiền lương tối thiểu  chung; tiền lương chưa gắn thật chặt với vị trí, chức danh và hiệu quả công tác, chất lượng  cung cấp dịch vụ công.

      Tiền lương chưa tạo ra động lực đủ mạnh cho người hưởng lương phát huy tài năng và cống hiến. Tiền lương thấp không kích thích được cán bộ, công chức gắn bó với  nhà nước, không thu hút được nhân tài; ngược lại, người làm việc giỏi, người có tài bỏ khu  vực nhà nước ra làm việc cho khu vực ngoài nhà nước, nơi có tiền lương và thu nhập cao,  có xu hướng tăng.

       Trong khi tiền lương không đủ sống, thì thu nhập ngoài lương lại rất cao và không kiểm soát được dẫn đến làm méo mó quan hệ tiền lương trong khu vực này. Thu nhập  ngoài lương lớn, có phần hợp pháp, hợp lý, nhưng có phần do tham nhũng, tiêu cực trong  thi hành công vụ (từ biếu xén, từ cơ chế xin – cho, từ cơ chế ăn chia, từ tạo sân sau…).

       Tiền lương nhà nước quy định trả cho cán bộ, công chức, viên chức còn thấp, nhưng tổng quỹ lương và trợ cấp do ngân sách nhà nước bảo đảm lại chiếm khá cao trong  tổng chi ngân sách nhà nước.

      Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp công (dịch vụ công)  còn chậm, nhất là trong y tế, giáo dục và đào tạo… làm khó khăn cho cải cách tiền lương  và tạo nguồn để trả lương cao cho viên chức khu vực sự nghiệp, cán bộ, công chức khu  vực hành chính nhà nước.

      Vai trò điều tiết của chính sách tiền lương còn yếu kém trong phân bổ nguồn lực,  cân đối cung – cầu lao động và đảm bảo công bằng; thiếu khung khổ pháp lý bảo vệ và bảo  hộ thu nhập và tài sản hợp pháp của công dân; chưa kiểm soát được tiền lương và thu nhập,  nhất là chưa điều tiết được yếu tố lợi thế về ngành, nghề, xoá độc quyền, làm ăn phí pháp.

    Những vấn đề cần nghiên cứu, xử lý trong cải cách chính sách tiền lương (những nút thắt cần tháo gỡ)

      Tiền lương tối thiểu đảm bảo đủ sống. Cần phải có cách tiếp cận đúng và phương  pháp xác định khoa học; giải quyết nhiều mối quan hệ kinh tế – xã hội quan trọng, nhất là  mối quan hệ đảm bảo các nhu cầu mức sống tối thiểu của người lao động với thị trường  (giá trị lao động, quan hệ cung – cầu, canh tranh lao động), biến động CPI, khả năng của  nền kinh tế và hội nhập.

      Đảm bảo phân phối tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước công bằng và chống độc quyền. Trong đó, cần giải quyết vấn đề quan hệ giữa chủ sơ hữu vốn nhà nước và  quyền tự chủ hoạt động SXKD theo cơ chế thị trường của doanh nghiệp nhà nước; bóc tách yếu tố lợi thế cạnh tranh và xóa độc quyền; thực hiện chính sách phân phối tiền lương  theo năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

      Thiết lập và vận hành hiệu quả cơ chế thỏa thuận giữa các bên về QHLĐ, nhất là về tiền lương trong doanh nghiệp một cách thực chất, theo đúng nguyên tắc thị trường,  tránh hình thức; đặc biệt là xác định rõ chủ thể đại diện và nâng cao năng lực đại diện các  bên trong quan hệ lao động ở doanh nghiệp.

      Đảm bảo nguồn tiền lương trả cho công chức cao và theo vị trí công việc, hiệu quả thực thi công vụ. Trong đó, phải sử lý nguồn trả lương cho công chức trong mối quan hệ với hệ thống chính trị, với chính sách xã hội, an sinh xã hội, nhất là BHXH, ưu đãi người có công và trợ giúp xã hội, đều có nguồn từ NSNN.

      Sử lý mối quan hệ giữa cơ chế tự chủ trong khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công theo hướng xã hội hóa phù hợp với kinh tế thị trường và chính sách xã hội, an sinh xã  hội.


Yêu cầu tiếp tục cải cách chính sách tiền lương giai đoạn 2011 – 2015

      Phải đạt được yêu cầu cải cách căn bản chính sách tiền lương phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập.

       Trong các loại hình doanh nghiệp 

      Trong doanh nghiệp, tiền lương phải bảo đảm đủ sống của bản thân người lao động  và gia đình, được hình thành theo quy luật của thị trường và do thị trường quyết định. Tiền  lương phải trả đúng giá trị sức lao động trên cơ sở tính đúng, tính đủ chi phí lao động; phản  ánh quan hệ cung – cầu lao động và được xác định thông qua cơ chế đối thoại, thương  lượng, thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động. Cụ thể là:

      Tiền lương và thu nhập trả cho người lao động phải đảm bảo đủ sống, tái sản xuất  được sức lao động của bản thân người lao động và gia đình. Nhà nước quy định mức tiền  lương tối thiểu đáp ứng nhu cầu mức sống tối thiểu của người lao động, phù hợp với mặt  bằng tiền lương trên thị trường, khả năng của doanh nghiệp và trình độ phát triển của nền  kinh tế làm căn cứ cho việc thoả thuận, thương lượng giữa các bên trong doanh nghiệp về tiền lương.

      Thực hiện nguyên tắc công bằng về phân phối tiền lương và thu nhập trong doanh  nghiệp. Tiền lương và thu nhập trả cho người lao động phải tương xứng với sự đóng góp  của lao động, tuỳ theo năng suất lao động của từng cá nhân và hiệu quả sản xuất kinh  doanh của doanh nghiệp. Từng bước thực hiện chính sách tiền lương gắn với năng suất lao  động trong khu vực sản xuất kinh doanh.

      Phân phối tiền lương và thu nhập trong doanh nghiệp phải đảm bảo mối quan hệ hài hoà lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động, giữa ngắn hạn  và dài hạn. Phải đặt lợi ích Nhà nước lên trên, đồng thời cũng phải chú ý đến mục tiêu phát  triển lâu dài của doanh nghiệp. Người lao động được trả lương và thu nhập theo kết quả lao  động, song cũng phải trong tổng thể phát triển của doanh nghiệp và chia sẻ với doanh  nghiệp ưu tiên cho đầu tư phát triển để có việc làm ổn định và thu nhập cao trong tương  lai.

      Phân phối tiền lương phải góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định  và tiến bộ, giảm thiểu tranh chấp lao động và đình công trên cơ sở hình thành cơ chế đối  thoại, thương lượng, thoả thuận và tự định đoạt về tiền lương, nhất là tiền lương tối thiểu ở doanh nghiệp, định mức lao động, đơn giá tiền lương, thang, bảng lương, làm thêm giờ,  tiền thưởng, phụ cấp, tiền ăn… được ghi vào hợp đồng lao động cá nhân, thoả ước lao  động tập thể, quy chế trả lương của doanh nghiệp…

      Thống nhất cơ chế tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp; mở rộng quyền tự chủ của doanh nghiệp trong việc xếp lương, trả lương cho người lao động phụ thuộc vào  năng suất lao động cá nhân và hiệu quả của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Song,  doanh nghiệp phải xây dựng chính sách tiền lương phù hợp với điều kiện của doanh  nghiệp, xây dựng định mức và đơn giá tiền lương, thang, bảng lương, quy chế trả lương…  theo sự hướng dẫn của Nhà nước và thực hiện công khai dân chủ, minh bạch trong doanh  nghiệp. Tập trung cải cách chính sách tiền lương trong các doanh nghiệp nhà nước theo  hướng bình đẳng với các doanh nghiệp khác, xóa bao cấp, độc quyền, gắn tiền lương với  năng suất lao động và hiệu quả SXKD của bản thân doanh nghiệp nhà nước.

      Cùng với tăng trưởng và phát triển kinh tế, tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng lao động, cải thiện quan hệ cung – cầu lao động,  từng bước thực hiện chính sách tiền lương cao để đảm bảo người lao động có tích luỹ từ tiền lương và mở rộng cơ hội cho họ mua cổ phần trong doanh nghiệp, để họ vừa là người lao động, vừa là người đầu tư. Phát triển doanh nghiệp cổ phần trở thành loại hình phổ biến  ở nước ta nhằm mở rộng cơ hội cho người lao động mua cổ phần để gắn bó lâu dài với  doanh nghiệp, có điều kiện và cơ hội phát huy quyền làm chủ thực sự ở doanh nghiệp.

      Thành lập Hội đồng tiền lương quốc gia trong cơ cấu Ủy ban quan hệ lao động giúp tư vấn, tham mưu cho Chính phủ về chính sách tiền lương khu vực thị trường.

 Trong khu vực hành chính nhà nước

      Chính sách tiền lương khu vực này phải bảo đảm tiền lương là thu nhập chính và mức sống của cán bộ, công chức ở mức trên trung bình của xã hội để họ gắn bó với khu  vực nhà nước và làm tròn trách nhiệm công vụ của mình, góp phần chống tiêu cực, tham  nhũng. Cụ thể là:

      Tách chính sách tiền lương khu vực hành chính nhà nước thành hệ thống tiền lương riêng có nguồn từ ngân sách nhà nước, từng bước thực hiện trả lương theo vị trí,  chức danh, công việc trong hệ thống hành chính nhà nước và hiệu quả công tác. Tiếp tục  thực hiện tiền tệ hoá những khoản chi công vụ có thể đưa vào lương (đất ở, nhà ở, phương  tiện đi lại, xăng xe…) để xoá bao cấp, tiết kiệm chi tiêu công.

      Nhà nước quy định mức lương thấp nhẩt cho khu vực Hành chính Nhà nước cao  hơn mức lương tối thiểu chung, đồng thời, tiếp tục mở rộng quan hệ tiền lương (bội số tiền  lương trong thang bảng lương) để đạt mức bình quân của khu vực này cao hơn mức tiền  lương bình quân trong xã hội. Nghiên cứu xây dựng thang, bảng lương công chức theo  mức lương, để khắc phục việc gắn hệ số lương với mức lương tối thiểu chung.

      Trong điều kiện kinh tế thị trường, phải có chính sách phân phối tiền lương khu vực này hợp lý trong mối tương quan với mặt bằng tiền lương khu vực thị trường, đặc biệt  phải có chính sách thu hút và giữ nhân tài cho khu vực hành chính nhà nước.

      Đổi mới cơ chế phân phối tiền lương và thu nhập khu vực hành chính nhà nước theo hướng bảo đảm tiền lương là thu nhập chính của cán bộ, công chức; trao quyền cho  người đứng đầu đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, công chức trong việc tuyển dụng và trả lương theo vị trí công việc, tiêu chuẩn chức danh và hiệu suất công tác; gắn việc trả lương  với tinh giảm bộ máy, cải cách hành chính, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công  chức.

Trong khu vực dịch vụ công (đơn vị sự nghiệp công lập)

      Khu vực sự nghiệp công lập có chức năng cơ bản là cung cấp dịch vụ công và  không ngừng phát triển theo yêu cầu của xã hội ngày càng tăng. Cụ thể là:

      Nhà nước tập trung đầu tư vào phát triển hạ tầng cơ sở và dịch vụ xã hội cơ bản, bảo đảm phát triển giáo dục, đào tạo, dạy nghề là “quốc sách hàng đầu”; chăm sóc tốt sức  khoẻ nhân dân, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân; bảo đảm thực hiện chính sách người có  công; việc làm; an sinh xã hội; hỗ trợ cho các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, những  người có thu nhập thấp, đối tượng chính sách.

      Đổi mới cơ chế quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp công, chuyển sang đơn vị cung cấp dịch vụ công hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Thực hiện hạch toán thu – chi trong cung cấp dịch vụ công, tự chủ tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tuyển dụng lao động theo chế độ hợp đồng làm việc và trả lương cho người lao động phụ thuộc vào năng  suất, chất lượng cung cấp dịch vụ theo hướng dẫn của nhà nước, được áp dụng cơ chế trả lương cho người lao động tương tự như doanh nghiệp Nhà nước.

      Nhà nước quy định các khoản thu phí, lệ phí trên cơ sở từng bước tính đúng, tính  đủ phù hợp với từng loại dịch vụ và loại hình đơn vị cung cấp dịch vụ (có thu, không có  thu và theo từng lĩnh vực khác nhau như giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học, nghệ thuật…);  quy định cơ chế uỷ quyền, đặt hàng và hỗ trợ (nếu cần) cho các đơn vị cung cấp dịch vụ nhằm thúc đẩy các đơn vị sự nghiệp công phát triển lành mạnh, nâng cao chất lượng cung  cấp dịch vụ công và tạo nguồn trả lương cho người lao động. Đồng thời, nhà nước ban  hành chính sách hỗ trợ đối với người nghèo, đối tượng chính sách xã hội, đồng bào dân tộc  thiểu số khi sử dụng dịch vụ.

Đổi mới cơ chế tạo nguồn đảm bảo thực hiện cải cách chính sách tiền lương công chức khu vực hành chính nhà nước

      Gắn chặt cải cách tiền lương công chức với xây dựng nên công vụ quốc gia để xác  định rõ và quản lý chặt đối tượng trả lương. Cần phải xây dựng một nền công vụ, hệ thống  công vụ chuyên nghiệp, hiện đại, từng bước ngang tầm trình độ khu vực và thế giới. Trong  đó, xác định rõ từng vị trí làm việc với chức danh tiêu chuẩn rõ ràng. Trên cơ sở đó xác  định ái là công chức và phải quản lý công chức theo chức danh của vị trí công việc. Từ đó,  chuyển dần từ trả lương theo người sang trả lương theo vị trí làm việc và hiệu quả công  việc (công vụ); đồng thời thực hiện đúng chế độ thủ trưởng trong thực thi công vụ, trao  quyền cho thủ trưởng quyết định việc trả lương cho công chức. Nghiên cứu xây dựng luật  công vụ.

      Điều chỉnh chi tiêu công, cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước; trong đó, tăng huy động các nguồn ngoài NSNN cho đầu tư phát triển, giảm tỷ trọng NSNN trong tổng mức  đầu tư toàn xã hội (duy trì khoảng 40% GDP), dành nguồn cho trả lương công chức đảm  bảo ở mức bình quân trên trung bình của xã hội.

      Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp cung cấp dịch vụ công (y tế, đào tạo và dạy nghề, văn hóa và thể thao…), giảm dần tỷ trọng chi từ NSNN cho đầu tư cơ sở vật  chất, tăng bộ máy biên chế …

      Tách dần tổng quỹ lương từ NSNN và Quỹ BHXH, nguồn chi trả chính sach ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội theo một cơ chế tạo nguồn và chi trả tương đối đọc lập  với nhau, giảm dần áp lực tăng kinh phí từ NSNN.

      Thiết kế lộ trình hợp lý cải cách chính sách tiền lương phù hợp với khả năng tạo nguồn, theo hướng tăng dần, tránh những đột biến gây sốc về nguồn và tác động mạnh tiêu  cực đến các quan hệ kinh tế – xã hội vĩ mô.


       Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi cung cấp đến bạn về vấn đề:Chính sách tiền lương: thực trạng, vấn đề và yêu cầu đặt ra cho giai đoạn 2011 – 2015. Để được tư vấn cụ thể hơn bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy.

       Trân trọng ./.


 

Đánh giá post

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *