CON NGƯỜI KHI MỚI ĐƯỢC SINH RA VỐN KHÔNG THIỆN CŨNG KHÔNG ÁC. THIỆN HAY ÁC LÀ DO HOÀN CẢNH TẠO NÊN

      Mỗi con người tồn tại, phát triển trên rất nhiều lĩnh vực, khía cạnh; song yếu tố để hình thành và phát triển không thể thiếu với mỗi cá nhân chính là nhân cách. Con người sinh ra ai cũng có phần “con”, tuy nhiên phải có  tình cảm, cảm xúc..và phải có nhân cách thì mới hoàn thiện phần “người”. Nhân cách của mỗi người là khác nhau và ngay trong mỗi con người nhân cách ở mỗi thởi điểm, mỗi hoàn cảnh cũng khác nhau. Sở dĩ như vậy bởi mỗi người là một cá thể riêng biệt, không ai giống ai, nhân cách mỗi người được tác động bởi các thành tố khác nhau. Có rất nhiều thành tố tác động vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách như di truyền, giao tiếp, hoàn cảnh, giáo dục… nhằm giúp nhân cách con người ngày càng hoàn thiện và được bộc lộ một cách rõ ràng, sâu sắc nhất; đặc biệt là trong xã hội hiện đại với nền kinh tế công nghiệp hóa – hiện đại hóa, sự mở cửa và giao lưu quốc tế thì “nhân tố con người” chính là yếu tố hàng đầu và quyết định đến sự thành bại của mỗi quốc gia. Bàn về nhân cách, bản chất con người và sự biến đổi của nó, nhà triết gia Hôn – bách(1723-1789) từng nói: “Con người khi mới được sinh ra vốn không thiện cũng không ác. Thiện hay ác là do hoàn cảnh tạo nên”. Câu nói của ông có tính đúng đắn như thế nào và có ý nghĩa ra sao đối với việc rèn luyện nhân cách con người, sinh viên, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu dưới góc độ tâm lý học.


Danh mục tài liệu tham khảo

  • Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tâm lí học đại cương, Nxb. Công
    an nhân dân, Hà Nội, 2011.
    Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Giáo trình tâm lí học đại cương, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2005.
  •  Bùi Văn Huệ, Giáo trình tâm lí học, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2000.

Khái quát một vài điểm của nhân cách

      Khái niệm:- Các nhà tâm lý học khoa học cho rẳng nhân cách là một phạm trù xã hội có bản chất xã hội – lịch sử. A.G Covaliov định nghĩa: nhân cách làm một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định. E.V. Solokhova lại nhận định: nhân cách con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lý, quy định hình thức của hoạt động và hành vi có ý nghĩa của xã hội. Từ đây có thể nói: nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, quy định hành vi xã hội và các giá trị xã hội của cá nhân đó.

      Nhân cách là hiện tượng tâm lý tương đối ổn định – kể cả phần sống động và phần tiềm tàng (nét, thói, tính tình..) có tính quy luật chứ không xuất hiện một cách ngẫu nhiên.

      Dùng cụm từ “tổ hợp” có nghĩa những thuộc tính tâm lý hợp thành nhân cách có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau làm thành một hệ thống, một cấu trúc nhất định. Cũng một thuộc tính đó, nằm trong cấu trúc khác sẽ trở nên khác đi. Ví dụ: thuộc tính có tinh thần trách nhiệm nếu đi kèm với khí chất nóng sẽ đưa tới hành động nôn nóng, vội vàng và kết quả không cao. Trái lại nếu cùng thuộc tính đó đi kèm với khí chất điềm tĩnh sẽ đưa tới hoạt động bình thản, chắc chắn dẫn đến kết quả tốt hơn.

Đặc điểm của nhân cách

      Tính ổn định của nhân cách

      Phẩm chất nhân cách bao giờ cũng ổn định trong thời gian và không gian nhất định. Sự thay đổi phẩm chất trong giới hạn cho phép thì nhân cách còn tồn tại. Ngược lại khi có những thay đổi lớn, các phẩm chất nhân cách biến đổi vượt ngoài giới hạn dẫn đến sự thay đổi nhân cách có khi mất nhân cách.

      Tính thống nhất trọn vẹn

      Các hiện tượng tâm lý trong nhân cách có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau. Mặt khác mỗi nhân cách lại tạo cho mình những mối quan hệ thống nhất với hoàn cảnh và môi trường xung quanh. Sự thống nhất trọn vẹn của nhân cách tạo thành một hệ thống cân bằng động – thống nhất trọn vẹn trong sự vận động và phát triển. Khi hệ thống cân bằng động bị phá vỡ, nhân cách sẽ bị chia cắt, mất tính thống nhất trọn vẹn thì nhân cách bị tổn thương, không bình thường hoặc bị mất nhân cách.

      Tính tích cực của nhân cách

       Thể hiện khả năng chủ động tích cực của chủ thể nhân cách nhằm cải tạo thế giới và hoàn thiện bản thân.

      Tính giao lưu

      Giữa các nhân cách có sự tác động và ảnh hưởng qua lại. Thông qua giao tiếp và hoạt động chủ thể nhân cách dần dần trưởng thành và hoàn thiện mình, không ngừng phát triển.

Phân tích tính chất câu nói của Hôn- Bách

Khái quát câu nói

      Từ xưa trong lịch sử phát triển của nhân loại đã có nhiều quan điểm khác nhau về cái thiện, cái ác. Bàn về vấn đề này, Khổng tử từng nói: “Nhân chi sơ, tính bản thiện”, phàm con người ta mới sinh ra đều có cái bản tính tốt lành. Vì cái tính lành ấy giống nhau nên giúp họ gần nhau; nhưng khi lớn lên, hòa nhập với xã hội, nhiễm nhiều thói tục ở đời khiến cho tính tình của họ khác đi và thành ra xa nhau. Nếu như con người ta chẳng được giáo dục, dạy dỗ thì tính lành thuở ban đầu ấy sẽ trở nên thay đổi tùy theo môi trường mà họ tiếp xúc. Về đường lối giáo dục, dạy dỗ con cái thì lấy đức chuyên làm trọng. Đây là một tư tưởng của Khổng Tử, được các học trò của ông như Mạnh Tử ghi chép, truyền đạt lại về sau và tư tưởng đạo lý này được tồn tại, giáo dục trong Nho giáo.

      Trái ngược với“Nhân chi sơ tính bản ác” (con người sinh ra bản tính là ác) là thuyết của Tuân Tử (313 – 238 TCN) – nhà Nho, nhà tư tưởng của Trung Hoa vào cuối thời Chiến Quốc, là một trong Bách gia Chư tử (Học thuật của trăm nhà). Tuân Tử quan niệm bản tính con người vốn là ác. Bản chất là ác, nhưng vì được giáo dục, nên con người trở nên thiện ít, hoặc thiện nhiều tùy mỗi người. Bản chất là ác nên mới hướng thiện, chứ nếu đã là thiện rồi thì cần gì phải hướng thiện. Vì thế, loài người thường nói hướng thiện, chứ xưa nay không bao giờ nghe từ hướng ác.

      Tổng hòa hai quan điểm trên, Nam tước d’Holbach (Hônbách, 1723-1789)-triết gia vô thần người Pháp, khẳng định rằng: “Con người khi mới sinh ra vốn không thiện mà cũng không ác. Thiện hay ác là do hoàn cảnh tạo nên”. Thật vậy, con người là một thực thể sinh học – xã hội; con người vừa là yếu tố tự nhiên, vừa là yếu tố xã hội. Dưới góc độ tự nhiên, con người là một tồn tại sinh vật ở bậc thang cao nhất của sự tiến hóa vật chất. Những đặc điểm cơ thể của nó là tiền đề vững chắc, quan trọng trong sự phát triển các chức năng tâm lý ở tư thế đứng thẳng như mở rộng tầm nhìn, năng lực định hướng trong môi trường. Dưới góc độ xã hội: tai người có khả năng tri giác các âm thanh, ngôn ngữ khi có môi trường ngôn ngữ và nhu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nhờ có đời sống xã hội lao động và ngôn ngữ, con người có khả năng ý thức và tự ý thức đó là hình thức phát triển cao nhất của sự phản ánh hiện thực. Mặt sinh vật trong con người không thể tách rời khỏi mặt xã hội và ngược lại, song bản thân cái tính đặc thù ở trong con người không phải do bẩm sinh, không phải do bản chất sinh vật của mình mà là ở trong quá trình sống, trong quá trình hoạt động, lao động, học tập đã được cải tạo bởi nhiều thế hệ. Do đó, câu nói của Hôn – Bách đến nay vẫn còn có ý nghĩa và giá trị to lớn. Về mặt tâm lý, câu nói của Hôn-Bách đề cập đến nhân cách, cụ thể là những nhân tố hoàn cảnh, yếu tố bên ngoài tác động đến sự hình thành nhân cách con người.

      Nhân cách là một phương tiện để đánh giá, nhìn nhận con người, bởi nó là một quá trình hình thành không chỉ từ bẩm sinh bên trong mà còn bởi nhân tố bên ngoài, từ môi trường khách quan.

“Con người khi mới được sinh ra vốn không thiện cũng không ác. Thiện hay ác là do hoàn cảnh tạo nên”
“Con người khi mới được sinh ra vốn không thiện cũng không ác. Thiện hay ác là do hoàn cảnh tạo nên”

Cơ sở cho câu nói của Hôn-Bách

      Để đưa ra quan điểm của mình Hôn-Bách đã có sự đánh giá vai trò, mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình hình thành nhân cách.

      Yếu tố bên trong

      Yếu tố bên trong tác động đến nhân cách đó chính là di truyền. Theo sinh vật học hiện đại, di truyền là mối liên hệ kế thừa của cơ thể sống đảm bảo sự tái tạo ở thế hệ mới những nét giống nhau về mặt sinh vật đối với thế hệ trước và đảm bảo năng lực đáp ứng những đòi hỏi của hoàn cảnh theo một cơ chế đã định sẵn.

      Các yếu tố bẩm sinh di truyền như đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh, cấu tạo, chức năng và hoạt động của não và các giác quan,…Những yếu tố này sinh ra đã có do bố mẹ truyền lại hoặc tự nảy sinh do biến dị (bẩm sinh). Bất cứ một chức năng tâm lý nào mang bản chất con người của nhân cách chỉ có thể được phát triển trong hoạt động của bản thân đó và trong điều kiện của xã hội loài người. Bởi thế nên theo quan niệm của Hôn – bách thì ông không đề cao yếu tố này trong việc hình thành nhân cách, mà cái chủ yếu, quyết định nhân cách con người chính là do hoàn cảnh tạo nên, nghĩa là do sự tác động mạnh mẽ của thế giới khách quan như hoàn cảnh sống, giáo dục, ngôn ngữ,…

      Yếu tố bên ngoài

      Theo như quan điểm của Hôn-bách, yếu tố bên ngoài mới là những yếu tố chính quyết định tới sự hình thành nhân cách con người. Bởi các yếu đó đóng góp phần lớn tới sự hình thành và phát triển của con người, bao gồm:

      Hoàn cảnh sống của chủ thể, gồm hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội.

      Hoàn cảnh tự nhiên không giữ vai trò quan trọng và quyết định trong sự phát triển tâm lý nhân cách; đó chính là những điều kiện tự nhiên nơi chủ thể sinh sống. Mỗi cá nhân lại sống trong một lãnh thổ nhất định, có cái độc đáo riêng của hoàn cảnh địa lý: ruộng đồng và khoáng sản, núi và sông, trời và biển, mưa và gió, hoa cỏ và âm thanh… Những điều kiện ấy quy định đặc điểm của các dạng, các ngành sản xuất, đặc tính của nghề nghiệp (tức những phương thức hoạt động của con người trong tự nhiên) và một số nét riêng trong phạm vi sáng tạo nghệ thuật. Qua đó, quy định các giá trị vật chất và tinh thần ở một mức độ nhất định. Cho nên có thể nói rằng, tâm lý dân tộc mang dấu ấn của hoàn cảnh tự nhiên thông qua khâu trung gian là phương thức sống. Xét cho cùng, nhiều phong tục tập quán và các nét tâm lý bản địa đều có nguồn gốc từ điều kiện và hoàn cảnh sống tự nhiên. Có thể nói vậy là bởi nhân cách như là một thành viên xã hội, chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên thông qua những giá trị vật chất và tinh thần, qua phong tục tập quán của dân tộc, của địa phương, của nghề nghiệp.

      Ví dụ: Ở nhiều vùng quê Việt Nam ngày nay vẫn còn truyền thống làm lễ cầu mùa, cầu mưa hay mừng gặt … phong tục này bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên của nước ta ( thích hợp trồng lúa nước, khí hậu nhiệt đới có mưa theo mùa tuy nhiên cũng thật lắm thiên tai).

      Hoàn cảnh xã hội lại có vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Có thể nói vậy là bởi nếu không có sự tiếp xúc với con người thì cá thể sẽ lớn lên và phát triển trong trạng thái động vật, nó không thể trở thành một con người, một nhân cách; nhân cách đó là một sản phẩm của xã hội. Vậy có nghĩa rằng một đứa trẻ muốn có nhân cách phải có sự tiếp xúc với người lớn để nắm vững tri thức, kinh nghiệm lịch sử xã hội, để được chuẩn bị trước vào cuộc sống và lao động trong văn hóa của thời đại. Yếu tố xã hội bao gồm những tác động từ phía môi trường xã hội (môi trường vĩ mô) và những hoạt động của chủ thể trong môi trường đó ở cấp độ vi mô.

      Môi trường vĩ mô được hiểu là toàn bộ những sự kiện và hiện tượng của đời sống xã hội diễn ra trong phạm vi rộng về không gian và kéo dài về thời gian. Môi trường vĩ mô vượt quá giới hạn của địa phương nơi trẻ sinh sống (phường, xã, thành phố, tỉnh, quốc gia..). Về thời gian, môi trường vĩ mô bao gồm cả quá khứ (di sản văn hóa vật thể và phi vật thể …), hiện tại ( nền văn hóa vật chất và tinh thần) và tương lai (viễn cảnh về mô hình phát triển của đất nước). Môi trường vĩ mô là những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp, nhiều hay ít tùy thuộc mối quan hệ của chủ thể với môi trường đó (quan tâm, thích thú, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng …).

      Ví dụ: Một đứa trẻ sống ở Mỹ – một đất nước phát triển, đa sắc tộc, đa văn hóa sẽ khác một đứa trẻ sống ở Việt Nam – đất nước đang phát triển với nền văn hóa đậm nét phương Đông. Đứa trẻ sống ở Mỹ sẽ có lối sống phóng khoáng hơn, tự do hơn và cũng có thể năng động hơn, đứa trẻ sống ở Việt Nam sẽ có lối sống khuôn phép, kín đáo hơn.

      Môi trường vi mô được giới hạn trong phạm vi hẹp, gần gũi với cuộc sống thường nhật của trẻ ở gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư, Đội thiếu niên tiền phong, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, câu lạc bộ …Ở gia đình, trẻ không chỉ học những điều cha mẹ dạy bảo, uốn nắn mà bầu không khí tâm lý – đạo đức cùng với tình cảm gắn bó ruột thịt là những tác động có sức cảm hóa mạnh mẽ. Nhà trường, với chức năng và nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ, có vai trò chủ đạo, định hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh thông qua các hình thức và nội dung của các loại hình hoạt động dạy học và giáo dục như học tập văn hóa, lao động hướng nghiệp, văn nghệ, thể dục thể thao … Ngoài học tập văn hóa, hầu hết những hoạt đồng trên được các tổ chức Đội, Đoàn cùng với nhà trường tổ chức trong thời gian ngoài giờ lên lớp. Điều đó giúp học sinh có cơ hội mở rộng phạm vi giao tiếp và rèn luyện tính năng động, tháo vát, hợp tác, tự tin …

      Nếu không được tiếp xúc với môi trường xã hội, trẻ sẽ không có điều kiện phát triển bình thường. Chẳng hạn, bác sỹ Sing, người Ấn Độ, có kể về trường hợp cô Kamala được chó sói nuôi từ nhỏ. Khi được đưa ra khỏi rừng, cô đã 12 tuổi. Bình thường, cô ngủ trong xó nhà, đêm đến thì tỉnh táo và đôi khi sủa lên như chó rừng. Cô đi lại bằng hai chân, nhưng khi bị đuổi thì chạy bằng bốn chi khá nhanh. Người ta dạy nói cho Kamala trong bốn năm, nhưng cô chỉ nói được hai từ. Cô không thể thành người và chết ở tuổi 18. Đến nay, người ta đã biết được trên 30 trường hợp tương tự.

  Những sự thực đó đã khẳng định tính đúng đắn trong nhận xét của C.Mác: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”. Như vậy có thể thấy, đứa trẻ ra đời mới chỉ như một con người “dự bị”. Nó không thể trở thành con người nếu bị cô lập, tách khỏi đời sống xã hội, nó cần phải học để trở thành người.

      Giáo dục: Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển nhân cách.

      Với nghĩa rộng, giáo dục bao gồm giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội; trong đó giáo dục nhà trường là quá trình tác động một cách chuyên biệt, không chỉ cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học cơ bản, hiện đại, mà thông qua việc dạy học còn hình thành ở học sinh những năng lực và phẩm chất trí tuệ, sự hứng thú. Mặt khác, việc giáo dục thông qua các hình thức sinh hoạt tập thể và hoạt động xã hội công ích là những tác động đặc thù ảnh hưởng đến sự phát triển những phẩm chất đạo đức của nhân cách. Giáo dục xã hội thông qua sách báo, phim ảnh, truyền hình, giao tiếp xã hội … với những nội dung lành mạnh là những tác động tích cực hỗ trợ cho giáo dục nhà trường. Giáo dục gia đình tuy không có chương trình, kế hoạch và nội dung xác định như giáo dục nhà trường; song với việc tổ chức cuộc sống có nền nếp, trật tự, gia phong, với việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên của gia đình thuộc các thế hệ,… là những tác động góp phần tạo nên nền tảng ban đầu của sự hình thành nhân cách.

      Như vậy, giáo dục đã giữ vai trò chủ đạo quyết định xu hướng hình thành và phát triển nhân cách. Có thể nói như vậy bởi:

      Giáo dục vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh và dẫn dắt sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh theo chiều hướng đó.

      Giáo dục có thể đem lại cái mà yếu tố bẩm sinh – di truyền hay môi trường tự nhiên không thể đem lại được.

      Ví dụ: Trẻ con không cần yếu tố giáo dục, đến 2 tuổi sẽ biết đi, 3 tuổi sẽ biết nói ( đó là những cái mà yếu tố bẩm sinh – di truyền đem lại) nhưng trẻ không thể tự biết đọc, biết viết nếu không được dạy ( là cái mà chỉ có yếu tố giáo dục có thể đem lại).

      Trong những trường hợp đặc biệt, giáo dục có thể phát triển tối đa mặt mạnh của các yếu tố khác.

      Ví dụ: Những trẻ em, học sinh có tư chất (sự kết hợp những đặc điểm giải phẫu và những điểm chức năng tâm – sinh lí) trong một lĩnh vực với tác động giáo dục có thể phát triển năng khiếu về lĩnh vực đó (năng khiếu toán, văn, âm nhạc,… )

      Giáo dục có thể bù đắp những thiếu hụt do bẩm sinh đem lại.

      Ví dụ: Đối với những trẻ bị khuyết tật, có thể sử dụng phương pháp giáo dục chuyên biệt như sử dụng chữ nổi đối với trẻ khiếm thị, ngôn ngữ hình thể với trẻ bị câm điếc bẩm sinh…

      Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu do tác động tự phát của môi trường xã hội gây nên và làm cho nó phát triển theo chiều hướng mong muốn của xã hội.

      Ví dụ: Đối với những trẻ suy thoái nhân cách ( nhiễm thói hư tật xấu, vi phạm pháp luật) có thể uốn nắn, điều chỉnh sự phát triển nhân cách lệch lạc so với các chuẩn mực xã hội của các em bằng các biện pháp giáo dục đặc biệt.

      Giáo dục có thể đi trước hiện thực, trong khi tác động tự phát của xã hội chỉ ảnh hưởng đến cá nhân ở mức độ hiện có của nó mà thôi.

      Ví dụ: Mục tiêu giáo dục của chúng ta là xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Đây chính là tính chất tiên tiến của nền giáo dục hiện đại.

      Như vậy, giáo dục có vai trò cực kì to lớn, nhưng giáo dục không vạn năng và học sinh không chịu sự tác động của giáo dục một cách thụ động. Giáo dục không thể “đem cho” và học sinh không chỉ “đón nhận”. Nhân cách học sinh không phải chỉ là sản phẩm trực tiếp của giáo dục. Vì vậy, giáo dục chỉ có thể phát huy tối đa vai trò chủ đạo trong điều kiện tổ chức, hướng dẫn học sin tham gia hoạt động và giao tiếp với tư cách chủ thể. Hoạt động tích cực của chủ thể là yếu tố quyết định trực tiếp của sự hình thành nhân cách.

      Giao tiếp: Giao tiếp là hình thức hoạt động đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người với con người, thông qua đó thực hiện sự tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện ở 3 quá trình: trao đổi thông tin, hiểu biết lẫn nhau và tác động lẫn nhau.

      Ví dụ: giáo viên lên lớp giảng bài cũng là một hoạt động giao tiếp, do nó có sự trao đổi thông tin.

   Giao tiếp đóng vai trò cơ bản trong sự hình thành và phát triển nhân cách. Bởi vì:

      Nó không thể có tâm lí con bên ngoài mối quan hệ giao tiếp, con người không thể tồn tại bên ngoài giao tiếp. Thông qua giao tiếp để tiếp thu, lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử – xã hội mà các thế hệ trước để lại để trở thành thành viên của xã hội.

      Ví dụ: Con người không thể tự mình chứng minh các định lí, công thức toán học mà phải thông qua giao tiếp dưới hình thức học tập, trao đổi các nghiên cứu của những nhà toán học thời trước để lĩnh hội kết quả nghiên cứu của họ.

      Giao tiếp thúc đẩy sự hình thành ở con người những hứng thú nhận thức khác nhau, điều này có thể làm đòn bẩy để dẫn đến sự tự đào tạo.

       Ví dụ: Thông qua việc tham gia các hội thảo về  môi trường, học sinh A có thể thấy hứng thú với vấn đề bảo vệ môi trường, điều đó thúc đẩy em tự nghiên cứu tìm tòi và từ đó dẫn đến sự tự đào tạo.

      Trong giao tiếp con người không chỉ nhận thức người khác mà còn nhận thức chính bản thân mình, bất kì người nào cũng đối chiếu mình với cái mà họ nhìn thấy ở người khác, so sánh cái mà họ làm được với cái mà người xung quanh làm. Do đó, qua giao tiếp, con người tự đánh giá bản thân mình như một nhân cách.

      Ví dụ: Các em học sinh cùng trao đổi cách giải một bài toán khó. Qua việc tranh luận đó, các em có thể tự thấy cách làm của mình là đúng hay sai, có nhanh gọn hay không.

      Nhu cầu giao tiếp là một nhu cầu xã hội cơ bản và xuất hiện sớm nhất ở con người. Việc không thỏa mãn nhu cầu này ở con người ở bất cứ lứa tuổi nào đều dẫn đến những rung động tiêu cực.

      Ví dụ: Những trẻ em không được đi nhà trẻ, các em không được tập giao tiếp làm quen với thầy cô và bạn bè nên khi đi học lớp 1 sẽ rất rụt rè, nhút nhát.

      Họat động: Hoạt động là nhân tố quyết định trực tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách. Bởi:

      Con đường tác động có mục đích, tự giác của xã hội bằng giáo dục đến thế hệ trẻ sẽ không có hiệu quả nếu như bản thân cá nhân học sinh không tiếp nhận, không hưởng ứng những tác động đó, không trực tiếp tham gia vào các hoạt động nhằm phát triển tâm lý, hình thành nhân cách. Hay nói cách khác là không có yếu tố hoạt động thì sự hình thành và phát triển nhân cách của chủ thể sẽ không được đảm bảo.

      Ví dụ: Khi trẻ được dạy cho cách viết chữ, nếu trẻ không tập viết thường xuyên thì trẻ sẽ không thể biết viết, hay nói cách khác là nhân tố giáo dục trong trường hợp này không phát huy tác dụng, Điều này là hoàn toàn phù hợp với quy luật về sự tự thân vận động, về động lực bên trong của sự phát triển nói chung. Hoạt động của cá nhân nhằm để thỏa mãn những nhu cầu tự nhiên hay đời sống xã hội là những biểu hiện phong phú về tính tích cực của nhân cách.

      Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là nhân tố quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển nhân cách. Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, mang tính xã hội, cộng đồng, được thực hiện bằng những thao tác nhất định, với những công cụ nhất định. Thông qua hai quá trình đối tượng hóa và chủ thể hóa trong hoạt động mà nhân cách được bộc lộ và hình thành.

      Ví dụ như hiện nay, các trường tiểu học trong địa bàn thành phố Hà Nội đang tổ chức mô hình học tập mới: Định kỳ hai tháng nhà trường lại tổ chức cho các em học sinh đi tham quan các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh. Qua hoạt động ngoại khóa này, các em được kích thích hoạt động tìm hiểu, nghiên cứu, giao tiếp xã hội ….từ đó hình thành nên sự đam mê lịch sử và tình yêu thương, gắn bó với đất nước của mình.

      Mặt khác, cũng thông qua hoạt động, con người đóng góp lực lượng bản chất của mình vào việc cải tạo thế giới khách quan.

      Ví dụ: Hoạt động trồng cây gây rừng của các bạn thanh niên hiện nay không chỉ giúp cho môi trường thêm xanh – sạch – đẹp mà còn góp phần cải tạo môi trường đất, giữ đất, chống lũ quét, sói mòn …

      Như vậy, khác với động vật, hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức.

      Ví dụ: Động vật khi bị đe dọa, theo bản năng chúng sẽ tự vệ ( như loài nhím sẽ xù lông, loài mực sẽ phun mực), đó là hành động bản năng không có ý thức. Con người khi gặp nguy hiểm sẽ có suy nghĩ để lựa chọn cách hành xử tốt nhất, không gây nguy hiểm cho bản thân cũng như người thân, đó là hành động có mục đích và ý thức.

      Hoạt động của con người được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển ý thức, là nguồn gốc và nội dung của ý thức. Hoạt động của con người được thực hiện không chỉ trong mối quan hệ của con người với sự vật mà cả trong mối quan hệ với người khác.

      Ví dụ: Giữa con người với con người có mối quan hệ tình cảm và để thể hiện tình cảm của mình họ có thể nắm tay nhau.

Ý  nghĩa câu nói của Hôn Bách đối với thực tiễn

      Câu nói của Hôn-bách không những có ý nghĩa lý thuyết, nó còn có vai trò cực kỳ quan; trọng trong đời sống thực tiễn, trong xã hội loài người, nhằm giúp mỗi cá nhân định hướng được những yếu tố xung quanh tác động để hướng tới phát triển và hoàn thiện nhân cách.

      Những yếu tố tác động, những hoàn cảnh tốt tất nhiên sẽ giúp cho nhân cách con người phát triển theo hướng tích cực. Tuy nhiên, những tác động và hoàn cảnh xấu chưa chắc đã hoàn toàn đem lại những hệ lụy tiêu cực, điều quan trọng là trong cái tiêu cực đó, ta tìm thấy, phát hiện và phát huy được nó, vận dụng đúng trong từng hoàn cảnh để biến nó trở thành yếu tố tiêu cực. Câu nói của Hôn-bách có một số ý nghĩa thực tiễn sau :

      “Con người khi được sinh ra vốn không thiện mà cũng không ác..”. Nhận định của triết gia giúp chúng ta đều nhận thức được rằng mỗi chúng ta sinh ra mang bản tính sơ khai, nguyên thủy, ta không ác, không thiện, ta vẫn là ta. Trở thành con người như thế nào là do ta quyết định, do ta tự sống, tự rèn luyện, tự thay đổi…Vì vậy, mỗi người có quyền tự chọn cho bản thân một lối sống, một hoàn cảnh, một môi trường sống riêng bởi “ thiện hay ác là do hoàn cảnh tạo nên”. Mà hoàn cảnh là do con người tạo, hoàn cảnh là do con người chọn, hoàn cảnh là do con người thích ứng. Như vậy, câu nói ít nhiều giúp cho mỗi cá nhân tự ý thức được, tự chủ được trong việc quyết định bản tính của chính mình. Cá nhân muốn trở thành công dân lương thiện thì sẽ hướng thiện, cá nhân muốn trở thành công dân tàn ác thì sẽ sống ác..

      Từ việc mỗi người có quyền lựa chọn bản tính cho riêng mình, họ sẽ có quyền lựa chọn hoàn cảnh sống. Chắc chắn rằng, một người được sinh ra và nuôi dưỡng trong một môi trường tốt, một gia đình có giáo dục, hạnh phúc, mọi người yêu thương nhau sẽ phát triển theo một lối sống tích cực, có một tâm hồn đẹp, yêu thương mọi người như cái cách mà người đó được tiếp xúc, được giáo dục mỗi ngày. Và một người được sinh ra trong một gia đình mà hằng ngày luôn phải nhìn thấy cảnh bố đánh mẹ, bố say xỉn về nhà quậy phá, bố mẹ cãi nhau..chắc hẳn trong tâm hồn họ đã hằn một vết thương khó lành, một phần kí ức không tốt về gia đình. Ngay trong gia đình đã không tốt đẹp như vậy, rất khó để họ có thể tin rằng xã hội này tốt đẹp, vì vậy họ sẽ đâm ra mất niềm tin vào cuộc sống, sẽ sống một cách buông thả, dẫn tới các hệ lụy không tốt cho cả bản thân, gia đình và xã hội. Sự lựa chọn nói tới ở đây chính là con người có quyền chọn trong hoàn cảnh như thế, họ sẽ tiếp tục hay thay đổi hoàn cảnh để thay đổi nhân cách của bản thân. Trong hoàn cảnh tốt nhưng nếu cá nhân không biết quý trọng thì vẫn sẽ sa ngã, trong hoàn cảnh xấu nhưng nếu cá nhân tỉnh táo, biết lựa chọn và thay đổi thì vẫn có thể phát triển một cách tốt đẹp, thậm chí cá nhân thông minh còn có vai trò cải biến hoàn cảnh ấy từ tiêu cực thành tích cực là chuyện không phải không làm được. Đây là một ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi “ gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”.

      Cũng từ việc lựa chọn, con người sẽ chủ động trước động thái của bản thân. Nhận diện được hoàn cảnh tốt sẽ là động lực, là niềm tin giúp con người phát triển, là điều kiện tốt để hoàn thiện nhân cách. Ngược lại, nhận diện hoàn cảnh xấu giúp bản thân chủ động xa lánh, tỉnh táo làm chủ, đứng vững trước tác động của hoàn cảnh để không bị cuốn theo, không bị quật ngã trước hoàn cảnh. Qua việc lựa chọn hoàn cảnh, con người sẽ biết cảnh giác trước những cám dỗ của môi trường để rèn luyện nhân cách, uốn nắn nhân cách bản thân phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau.

      Câu nói của Hôn-bách còn tạo nên sự gần gũi giữa con người với con người, làm cho tình người thêm ấm áp, con người biết thấu hiểu và thông cảm cho nhau. “Con người khi được sinh ra vốn không thiện cũng không ác…” nghĩa là vốn dĩ họ bình thường. Những người có lối sống đẹp, sống thiện sẽ được noi gương; những người sai đường lạc lối, những người lỡ sa vào con đường tội lỗi sẽ nhận được ánh mắt bao dung hơn từ người đời bởi “thiện hay ác là do hoàn cảnh tạo nên”, vì vậy có những người họ mắc tội lỗi không phải bởi yếu tố chủ quan, mà là những gì họ đang chịu tác động xung quanh đã khiến họ phải như vậy, đã biến họ từ “nhân chi sơ, tính bản thiện” thành một tội đồ của gia đình, của xã hội. Ánh nhìn thiện cảm, lòng bao dung của chúng ta sẽ giúp họ có động lực, có niềm tin để thay đổi, cho họ cơ hội để làm lại cuộc đời, để họ hoàn thiện lại nhân cách, từ đó giúp cho xã hội văn minh và phát triển hơn.

      Không những có vai trò trong việc định hướng nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, câu nói của Hôn-bách còn giúp con người tạo nên môi trường khách quan cho nhau, giúp nhau phát triển và hoàn thiện bản thân. Hiểu được ý nghĩa đó, bố mẹ, người thân, thầy cô, bạn bè, những người hằng ngày ta giao lưu, tiếp xúc..sẽ biết cách tạo ra một môi trường tích cực để mọi người đều cùng trở thành một người lương thiện, tốt đẹp. Và cứ thế, từng cá nhân tốt sẽ tạo nên một môi trường tốt, môi trường lại tác động trở lại vào từng cá nhân, chúng sẽ thúc đẩy nhau và tạo nên một sợi dây liên kết bền vững, bởi “con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”.

      Lại nói về xã hội, con người thời nay mang những phẩm chất của xã hội hiện đại, phát triển, năng động. Xã hội ảnh hưởng lớn đến con người, sống trong một xã hội như vậy, con người cũng sẽ trở nên hiện đại, năng động, tự tin, quyết đoán..từ đó biết cách tránh khỏi những tệ nạn, những hố sai lầm, những mặt trái của xã hội hiện đại. Vì vậy, đất nước cần tạo ra một xã hội hiện đại nhưng tích cực, xã hội có tốt thì công dân mới tốt được…

      Áp dụng thực trạng học sinh và đời sống ngày nay:

      Trong môi trường sinh viên thường thì con cái sẽ phát triển tốt trong sự kiểm soát, quản lí của bố mẹ. Vì vậy sinh viên xa nhà là đối tượng dễ bị tác động bởi yếu tố hoàn cảnh, đặc biệt là sinh viên năm nhất, năm hai…Tỉnh táo trước những thú vui của đời sống sinh viên, sự lôi kéo của bạn bè..là yếu tố cực kỳ quan trọng. Những ai không làm chủ được bản thân, không kiểm soát được hoàn cảnh sẽ dễ rơi vào các tệ nạn xã hội, cờ bạc, rượu chè, game,..dần dần nợ môn, nợ tiền..sinh ra ăn cắp, ăn trộm, cướp giật, lừa gạt bố mẹ…thậm chí có bạn còn phải đứng trước vành móng ngựa vì vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Những cá nhân đó trước kia hoàn toàn có thể là cá nhân tốt, giỏi trong học tập và tốt trong rèn luyện khi còn là học sinh, bởi họ được rèn luyện trong môi trường bạn bè, gia đình tốt..cho đến khi hoàn cảnh thay đổi, trước ánh đèn của thị thành, những thú vui khó cưỡng lại, sự tò mò và hiếu kì của tuổi trẻ..họ đã thay đổi, bản tính con người đã thay đổi. Tuy nhiên, việc hoàn cảnh sống thay đổi, phát sinh các nhu cầu mới để họ có thể làm hành trang cho tương lai nếu biết tận dụng (nhu cầu học giao tiếp, học tiếng anh, kĩ năng mềm..). Có hứng thú với những thử thách sắp xuất hiện, tạo cho mình một mục tiêu để có động lực, kế hoạch, phương pháp, phương tiện, thời điểm thực hiện. Tích cực tham gia các hoạt động học tập, tình nguyện..giúp bản thân trở nên năng động, tích cực, cuộc sống sinh viên thêm ý nghĩa; phân bổ quỹ thời gian hợp lí để không”nhàn rỗi sinh nông nổi” bằng việc đi thiện nguyện, làm thêm..chính là những cách để giúp bản thân phát triển tốt hơn trong môi trường sinh viên xa nhà. Như vậy,ở đây chính là vì hoàn cảnh , môi trường sống tác động đến sự phát triển của sinh viên từ nhận thức đến hành động.

      Nhiều vụ án thương tâm đã xảy ra chỉ vì nhận thức sai lầm, nhận thức là từ sự giáo dục, từ môi trường xung quanh tác động. Vụ án cậu bé giết bố đẻ rồi chặt xác vứt xuống sông xảy ra vào tháng 5/2011 tại Hải Dương chắc hẳn vẫn còn làm đau đáu dư luận mỗi khi nhắc đến. Thiếu tình yêu thương, sự chăm sóc và dạy dỗ của bố mẹ, cậu bé Thành 15 tuổi đã giết chết bố đẻ của mình vì sau khi trở về từ nước ngoài suốt mười mấy năm khi Thành còn nhỏ, bố đã dùng sự hà khắc cứng nhắc, đánh đập tàn nhẫn để dạy con. Nghiện game, cờ bạc, cộng với sự nhục mạ, khinh rẻ của bố; cậu bé 15 tuổi chông chênh về nhận thức đã gây ra tội lỗi đáng buồn cả về pháp luật lẫn đạo đức…Và còn rất nhiều vụ án khác nữa, để chúng ta thấy rằng, hoàn cảnh có vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách con người. Chúng ta vẫn có thể trở thành những con người, những sinh viên tốt nếu biết lựa chọn hoàn cảnh, môi trường sống cho bản thân, biết tỉnh táo trước sự thay đổi của hoàn cảnh để đưa bản thân vươn cao trở thành một tấm lòng lương thiện giữa cuộc đời.

      Qua ý nghĩa thực tiễn ấy, mỗi cá nhân, mỗi sinh viên có thể tự rút ra được cho mình những bài học kinh nghiệm quý báu, tự chủ trong nhận thức và hành động để không phải hối hận vì những gì đã nghĩ và những gì đã làm.

      Không thể phủ nhận, môi trường và hoàn cảnh có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nhân cách của con người. Con người tốt xấu, thiện ác đều chịu sự tác động của môi trường, của sự giáo dục, trong giao tiếp, cư xử và trong hoạt động của họ. Xã hội ngày càng phát triển với những biến chuyển mạnh mẽ, buộc con người phải thay đổi thích nghi với hoàn cảnh. Nhân cách con người có thể được rèn luyện, có thể được sửa đổi, được bồi đắp cũng chính vì những sự tác động này. Nhưng chúng ta phải tự ý thức được mình cần phải học hỏi và tiếp thu những gì có ích, không làm ảnh hưởng xấu đến tâm lý của chính mình. Một bức tranh đầy màu sắc rực rỡ chắc chắn sẽ hấp dẫn, lôi cuốn hơn một bức tranh chỉ một màu xám xịt. Vậy nên chúng ta hãy tự vẽ cho mình một bức tranh hoàn thiện, đẹp đẽ nhất để có thể vui vẻ và hạnh phúc trong suốt cuộc đời mỗi chúng ta.


Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề:Con người khi mới được sinh ra vốn không thiện cũng không ác. Thiện hay ác là do hoàn cảnh tạo nên.q Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật qua HOTLINE 19006588 của Luật NQH Việt Nam để được giải đáp.

Trân trọng./.


 

BẠN CÓ THỂ ĐẶT CÂU HỎI CHO CÁC LUẬT SƯ

avatar
  Subscribe  
Notify of
G

TƯ VẤN NGAY!