ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ NÀY

      Ở Việt Nam, quyền con người, quyền công dân luôn được “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Trong các quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp ghi nhận, thì quyền về dân sự có ý nghĩa rất quan trọng. Nhà nước ta bằng nhiều cách thức, biện pháp luôn bảo hộ các quyền dân sự của các chủ thể. Trong nhiều biện pháp đó, khởi kiện vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng là một biện pháp hữu hiệu quan trọng, có tính khả thi cao.

      Khởi kiện vụ án dân sự (VADS) là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác có quyền dân sự bị xâm phạm có quyền khởi kiện VADS để yêu cầu tòa án có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền dân sự phải chấm dứt hành vi trái pháp luật hoặc phải bổi thường thiệt hại hoặc phải chịu chế tài phạt vi phạm…Tòa án chỉ thụ lý giải quyết VADS khi có đơn khởi kiện của các chủ thể. BLTTDS 2015 không chỉ ghi nhận quyền khởi kiện dân sự mà còn quy định các điều kiện về thủ tục khởi kiện, yêu cầu khởi kiện. Thế nhưng các chế định đó của Bộ luật 2015 đã đủ đáp ứng yêu cầu của thực tế hay chưa, chúng ta đang gặp những vướng mắc gì khi áp dụng quy định của pháp luật về điều kiện khởi kiện VADS…? Bài viết xin khai thác đề tài “Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này” để làm rõ các vấn đề trên.


Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Bộ Luật Tố tụng dân sự 2004
  • Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 
  • Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, Nxb. CAND, tr.241
  • Hoàng Việt Luật lệ (1994), Nxb Văn hoá – Thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
  • Một số vấn đề về thủ tục giải quyết tranh chấp và thi hành án bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, T.S Bùi Anh Tuấn,
  • Hoàn thiện chế định khởi kiện và thụ lý án dân sự trong Pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam ,Nguyễn Thu Hiền, luận văn thạc sĩ, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012

Khái quát về khởi kiện vụ án dân sự – quyền khởi kiện VADS

      Việc nghiên cứu so sánh lịch sử TTDS thế giới đã cho thấy, về cơ bản khái niệm quyền khởi kiện –hay tố quyền đã được biết đến từ thời xa xưa của xã hội loài người. Chẳng hạn, ở nhà nước chiếm hữu nô lệ Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ V trước Công nguyên đã tồn tại hai hình thức tố tụng là công tố (hoạt động tố tụng đối với các vụ án mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các lợi ích của Nhà nước khi mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật) và tư tố (hoạt động tố tụng đối với các vụ án xảy ra do sự vi phạm đến các lợi ích riêng của ai đó); còn ở La Mã cổ đại trong thời kỳ tan rã của nền dân chủ quân sự và hình thành Nhà nước chiếm hữu nô lệ thì quyền khởi kiện cũng được ghi nhận trong các vụ án động chạm đến lợi ích cá nhân của tầng lớp trên trong xã hội.

    Tại xã hội phong kiến Việt Nam, quyền khởi kiện cũng được thừa nhận và quy định cụ thể trong những Chiếu dụ của nhà vua, cũng như được thể hiện chi tiết và sâu sắc trong Luật Gia Long và Luật Hồng Đức. Cụm từ “quyền khởi kiện” chỉ chính thức được ghi nhận lần đầu tiên tại Điều 1 của PLTTGQCVADS theo đó: “Công dân, pháp nhân theo thủ tục do pháp luật quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án nhân dân bảo về quyền lợi hợp pháp của mình”. Đến BLTTDS 2015 hiện hành quy định: “cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện VADS (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Trong đó, khởi kiện VADS được hiểu là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật TTDS nộp đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác.


Các quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện khởi kiện Vụ án dân sự

      Quyền khởi kiện- như đã đề cập ở trên- là một quyền vô cùng quan trọng của mỗi người. Nhưng câu hỏi cho chúng ta là có phải bất kì ai, trong bất kì tình huống nào, cũng có thể thực hiện quyền dân sự đó hay không? Vì thế, pháp luật đã xác định các điều kiện bắt buộc để một người có thể khởi kiện. Và câu trả lời cho vấn đề điều kiện khởi kiện VADS chính  là phải xác định xem ai là người có quyền khởi kiện, khởi kiện ai, kiện về vấn đề gì, khởi kiện ở đâu và trong thời gian nào?  Trong BLTTDS 2015,các điều kiện này được quy định cùng với vấn đề thụ lý VADS tại chương XII, từ Điều 186 đến Điều 202.


Các điều kiện để trở thành chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự

      Chủ thể có quyền khởi kiện được BLTTDS 2015 quy định như sau: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.” Từ quy định trên và các quy định có liên quan, có thể thấy, chủ thể khởi kiện VADS là các chủ thể theo quy định của pháp luật được tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS. Các chủ thể này bao gồm cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy định. Cá nhân khi khởi kiện VADS phải có NLHVTTDS, đồng thời phải có quyền lợi bị xâm phạm hoặc một số trường hợp khác mà pháp luật cho phép.

Thứ nhất, người khởi kiện phải có năng lực pháp luật TTDS

      Đối với trường hợp đương sự là cá nhân: Người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng không bị mất hoặc bị hạn chế NLHVDS có đầy đủ NLHVTTDS là chủ thể có quyền khởi tố VADS. Người chưa đủ 06 tuổi hoặc người mất NLHVDS thì không có NLHVTTDS. Việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho những người này tại Toà án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. Người từ đủ 06 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thì việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho những người này tại Toà án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. BLTTDS 2015 không công nhận quyền khởi kiện cho người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, đến nay chưa có văn bản hướng dẫn BLTTDS 2015 về vấn đề này. Đặc biệt, đối với việc ly hôn thì không được phép đại diện.

      Theo quy định tại Khoản 3 Điều 69 BLTTDS 2015, thì người bị hạn chế NLHVDS, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, trong trường hợp này, Tòa án sẽ xác định NLHVTTDS của họ. Bởi lẽ, trong trường hợp này, họ chưa mất hoàn toàn năng lực, họ vẫn còn khả năng tự mình tham gia tố tụng, do đó, quy định này là rất hợp lý.

      Đương sự là cơ quan, tổ chức do người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng. Cơ quan, tổ chức phải là những cơ quan được thành lập hợp pháp, thường là pháp nhân , người đại diện hợp pháp của cơ quan đó là người do luật quy định hoặc được chỉ định trong giấy tờ uỷ quyền hợp pháp.

Thứ hai, người khởi kiện phải có mối quan hệ mật thiết với tranh chấp, đồng thời có quyền, lợi ích hợp pháp trực tiếp bị xâm hại 

      Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 187 BLTTDS 2015, sẽ có trường hợp ngoại lệ, đó là khởi kiện để bảo vệ lợi ích của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước. So với BLTTDS 2005, BLTTDS năm 2015, tại Điều 187 có bổ sung thêm trường hợp: tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng tham gia khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc lợi ích công cộng (Khoản 3) và trường hợp cá nhân có quyền khởi kiện vụ án HNGĐ để bảo vệ quyền, lợi ích của người khác (Khoản 5).


Phân loại chủ thể có quyền khởi kiện VADS

      Như vậy, chủ thể của quyền khởi kiện được thừa nhận trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam có thể phân chia thành các nhóm chủ thể như sau: Nhóm chủ thể thứ nhất: Các chủ thể có quyền khởi kiện do quyền lợi của họ bị tranh chấp hoặc vi phạm; Nhóm chủ thể thứ hai: Các chủ thể có quyền khởi kiện nhưng họ không có quyền lợi liên quan trong vụ kiện (nhóm chủ thể có quyền khởi kiện vì quyền, lợi ích hợp pháp của người khác).

Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

      Nhóm chủ thể thứ nhất: Các chủ thể có quyền khởi kiện do quyền lợi của họ bị tranh chấp hoặc vi phạm:

      Quyền khởi kiện của chủ thể trong quan hệ tài sản: Các nghĩa vụ tài sản bị xâm phạm có thể có nguồn gốc từ hợp đồng, hoặc do pháp luật quy định như hành vi pháp lý đơn phương, gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật, thực hiện công việc không có uỷ quyền… Do vậy, khi chủ thể mang quyền trong các quan hệ về hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc các quan hệ khác về nghĩa vụ thực hiện việc khởi kiện thì họ sẽ trở thành nguyên đơn dân sự trong vụ kiện. 

      Quyền khởi kiện của chủ thể trong quan hệ nhân thân: Thông thường quyền này gắn liền với những cá nhân nhất định là chủ thể của quan hệ nhân thân. Cụ thể, nguyên đơn trong vụ kiện yêu cầu ly hôn là vợ hoặc người chồng; người có yêu cầu trong việc huỷ hôn nhân trái pháp luật, không công nhận quan hệ vợ chồng chỉ thuộc về các bên có quan hệ hôn nhân; người con chưa thành niên là đương sự với tư cách người có yêu cầu trong việc yêu cầu hạn chế quyền của mẹ, cha đối với con chưa thành niên… 

      Quyền khởi kiện của chủ thể thế quyền: Về khoa học pháp lý, trong các quan hệ về tài sản, chủ thể của quan hệ nghĩa vụ là không thể thay đổi, cũng như không thể chuyển giao cho người khác. Tuy nhiên, thực tiễn đã xuất phát một số các trường hợp ngoại lệ, liên quan tới việc chuyển quyền theo quy định của pháp luật dân sự. Mà từ đó, pháp luật cho phép bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế quyền. Khi bên có quyền yêu cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế quyền thì người thế quyền trở thành bên có quyền yêu cầu và có thể đứng đơn kiện với tư cách là nguyên đơn dân sự để yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ. 

      Quyền khởi kiện của các chủ thể nhận thừa kế quyền: Việc kế thừa các quyền và nghĩa vụ trong các quan hệ tài sản được đặt ra đối với các trường hợp hợp nhất pháp nhân, sáp nhập pháp nhân, chia tách pháp nhân. 

      Quyền khởi kiện của chủ thể mang quyền đối với người thứ ba: Theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự hiện nay thì trong trường hợp cần xác định quyền sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung với người khác mà các bên không thoả thuận được thì người được thi hành án có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án xác định phần tài sản của người phải thi hành án

      Nhóm chủ thể thứ hai: Các chủ thể có quyền khởi kiện nhưng họ không có quyền lợi liên quan trong vụ kiện (nhóm chủ thể có quyền khởi kiện vì quyền, lợi ích hợp pháp của người khác): 

      Quyền khởi kiện với tư cách là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

       Về nguyên tắc chủ thể có quyền lợi trong vụ kiện đã thực hiện việc khởi kiện hay được người khác khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho họ được coi là nguyên đơn. Người khởi kiện để bảo vệ quyền lợi ích của người khác, tuỳ trường hợp sẽ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo pháp luật hay đại diện theo uỷ quyền.  

      Quyền khởi kiện của các chủ thể không có quyền lợi trong vụ việc với tư cách nguyên đơn:

Về nguyên tắc, nguyên đơn phải là chủ thể được giả thiết có quyền lợi bị tranh chấp hay vi phạm. Tuy nhiên, luật thực định thừa nhận quyền khởi kiện vụ án dân sự của các cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách và tư cách nguyên đơn của các chủ thể này (Điều 187 BLTTDS, như đã phân tích ở trên).


Điều kiện về thẩm quyền giải quyết VADS của Tòa án

      Để giải quyết tốt các vụ án dân sự, Tòa án có trách nhiệm hướng dẫn và giúp đỡ cho các chủ thể khởi kiện thực hiện hành vi khởi kiện vụ án đúng quy định của pháp luật. Tòa án chỉ thụ lý VADS đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. Việc xác định thẩm quyền là một điều kiện cần thiết để đảm bảo cho hoạt động bình thường và hợp lý của bộ máy nhà nước. Thẩm quyền của Tòa án được xác định một cách chính xác sẽ tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án với các cơ quan nhà nước khác, giữa các Tòa án và các bộ phận trong một Tòa án, góp phần giải quyết đúng đắn, tạo điều kiện cho các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Điều kiện về thẩm quyền của Tòa án bao gồm:

  • Đúng thẩm quyền về loại việc theo quy định tại Điều 26, 27, 28, 29, 30, 31, 31, 33, 33 BLTTDS 2015. Các quy định trên phần lớn tương đồng với quy định của BLTTDS 2005, tuy nhiên tại các Điều 26, 28, 30 và 32, thì BLTTDS 2015 có mở rộng thêm những tranh chấp theo các lĩnh vực sẽ thuộc thẩm quyền xét xử, giải quyết của Tòa án. Việc mở rộng này, thực chất là để phù hợp với các quy định trong pháp luật nội dung.
  • Đúng thẩm quyền về cấp Tòa án theo quy định tại Điều 35, 36, 37, 38 BLTTDS 2015.
  • Đúng thẩm quyền về lãnh thổ theo quy định tại Điều 39 BLTTDS 2015.
  • Thẩm quyền Tòa án trong trường hợp theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu theo quy định tại Điều 40 BLTTDS 2015. Tại các Điều 36 và 38, BLTTDS 2015 có quy định về thẩm quyền của Tòa chuyên trách Tòa án cấp huyện và Tòa chuyên trách Tòa án cấp tỉnh. Việc quy định này cũng để phù hợp với quy định về tổ chức và hoạt động của Tòa án theo Luật Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân 2014.

      Ngoài ra, để tối giản thủ tục và khắc phục những sơ suất của chủ thể khởi kiện về việc nhầm lẫn thẩm quyền giải quyết vụ việc của Tòa án, pháp luật còn quy định về việc chuyển vụ việc dân sự cho Tòa án khác và giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án tại Điều 41. 

      Đối với những việc pháp luật quy định phải yêu cầu cơ quan khác giải quyết trước thì chủ thể khởi kiện chỉ được khởi kiện vụ án khi các cơ quan hữu quan đã giải quyết mà họ không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan đó.

      Khi xác định thẩm quyền, Tòa án cũng phải xác định đó là loại tranh chấp dân sự, HNGĐ, kinh doanh, thương mại hay lao động để vào sổ thụ lý loại án đúng với quy định. Việc xác định này có ý nghĩa rất lớn khi xác định các quy phạm pháp luật nội dung để áp dụng. Chẳng hạn nếu đó là tranh chấp về HNGĐ sẽ áp dụng các quy định trong Luật HNGĐ, BLDS… Nếu là tranh chấp lao động sẽ áp dụng BLLĐ.


Điều kiện về thời hiệu khởi kiện VADS

      Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà các chủ thể có quyền khởi kiện được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự, HNGĐ, kinh doanh, thương mại, lao động để bảo vệ quyền lợi ích bị xâm phạm. Hết thời hạn đó thì chủ thể khởi kiện mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trước kia BLTTDS 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, tại Điều 159 quy định, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Còn thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

      Điều này cũng quy định, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì thực hiện như sau: “a) Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện; b) Tranh chấp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.

      Khoản 4 Điều 159 nêu rõ, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu yêu cầu để Tòa án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ các việc dân sự có liên quan đến quyền dân sự về nhân thân của cá nhân thì không áp dụng thời hiệu yêu cầu”.

      Tuy nhiên sang đến BLTTDS 2015, tinh thần pháp luật đã thay đổi, theo đó quyền và lợi ích của các chủ thể được bảo vệ triệt để hơn. Cụ thể, Điều 184 BLTTDS 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự như sau: “1. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.

    Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.

      Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”.

      Theo quy định tại Điều 184 BLTTDS năm 2015 nêu trên, việc áp dụng thời hiệu này sẽ không tự động phát sinh mà chỉ được áp dụng nếu như có yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên và yêu cầu phải được đưa ra trước khi Tòa án đưa ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Điều này trên thực tế được hiểu là Tòa án sẽ không được từ chối thụ lý vụ việc vì đã hết thời hiệu khởi kiện. Bất cứ yêu cầu hợp lý của nguyên đơn – nguyên đơn chứng minh là người có quyền yêu cầu thì Tòa án đều phải thụ lý giải quyết. Sau khi Tòa án thụ lý thì theo yêu cầu của một bên hoặc hai bên Tòa án sẽ áp dụng thời hiệu khởi kiện để xét xem vụ việc đã quá thời hiệu khởi kiện chưa, nếu có căn cứ để cho rằng vụ việc đã quá thời hiệu khởi kiện thì tòa án khi đó mới ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc với lý do là vụ việc đã hết thời hiệu khởi kiện.

       Vậy, điều này có gì khác biệt với BLTTDS 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011?  Điểm khác biệt và tiến bộ rõ rệt được thể hiện ở ý cuối: “Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”. Như vậy, nếu người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu thực hiện quyền từ chối áp dụng thời hiệu nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thì Tòa án sẽ tước quyền này của họ. Sự ghi nhận này của BLTTDS 2015 phù hợp với thực tiễn hơn bởi lẽ, trên thực tế có nhiều nguyên nhân khách quan mà việc khởi kiện không được thực hiện trong thời hạn quy định. Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của họ pháp luật quy định không tính vào thời hiệu khởi kiện khoảng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng; trở ngại khách quan; người có quyền khởi kiện chưa thành niên, bị mất NLHV, bị hạn chế NLHVDS mà chưa có người đại diện; người đại diện của họ bị chết mà chưa có người thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện. Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đã khắc phục được điều đó và trên hết thể hiện tinh thần “Công lý phải được bảo vệ tới cùng”.


Vụ án dân sự phải chưa được giải quyết bằng một quyết định hoặc bản án của Tòa án

      Điều kiện này đặt ra yêu cầu là: Nếu vụ án trước đó đã được Tòa án giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì chủ thể quyền không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án đó nữa. Tòa án có quyền trả lại đơn cho người khởi kiện. Việc quy định các chủ thể quyền khởi kiện chỉ có thể yêu cầu tòa án giải quyết những vụ án chưa được Tòa án giải quyết nhằm mục đích tránh tình trạng kiện tụng kéo dài nhiều lần không cần thiết, gây tổn hại cho đương sự một cách vô ích. Thế nhưng, trong một số trường hợp, dù đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực thì chủ thể vẫn có quyền khởi kiện lại như trường hợp:

      Bản án, quyết định của tòa án bác đơn xin ly hôn;

      Yêu cầu xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại;

      Vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện; 

      Các trường hợp khác pháp luật quy định.

  • Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điều kiện khởi kiện VADS

     So với BLTTDS 2004, Bộ luật 2015 đã có nhiều điểm mới, bổ sung các lỗ hổng của bộ luật cũ, tạo điều kiện cho pháp luật dân sự được bảo đảm thực hiện, đặc biệt là trong các quy định về điều kiện khởi kiện  VADS. Tuy nhiên, trong vấn đề này chúng ta vẫn gặp một số vướng mắc, cụ thể:

  • Về điều kiện của chủ thể có quyền khởi kiện: BLTTDS 2004 và các văn bản hướng dẫn ghi nhận quyền được tự mình khởi kiện đối với cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia các hợp đồng lao động và các giao dịch dân sự bằng tài sản riêng hợp pháp. Điều này là phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, văn bản trên đã hết hiệu lực và đến nay, BLTTDS 2015 không còn ghi nhận quyền trên nữa, như vậy đã phần nào hạn chế quyền chính đáng của chủ thể đặc biệt trên. 
  • Về thời hiệu khởi kiện VADS: Tại Điều 149 BLDS và Điều 181 BLTTDS đều quy định Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.

      Vấn đề này, thực tiễn tại Tòa án vẫn còn quan điểm khác nhau, một bên là Thẩm phán phải giải thích và một bên là Thẩm phán không được giải thích cho đương sự biết việc đương sự được quyền yêu cầu Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu nếu biết thời hiệu khởi kiện đã hết. Vì hậu quả pháp lý hoàn toàn khác nhau. Nếu Thẩm phán giải thích mà đương sự yêu cầu thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án hoặc đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nếu Thẩm phán không giải thích và đương sự không biết được quyền yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu thì Tòa án sẽ giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

      Tại khoản 1 và Điểm a khoản 4 Điều 210 BLTTDS năm 2015 quy định tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải quy định Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của BLTTDS và các quy định của pháp luật liên quan đến giải quyết vụ án. Như vậy, các đương sự khi tham gia tố tụng là hoàn toàn bình đẳng về quyền và nghĩa vụ và đương sự phải được Tòa án giải thích đầy đủ quyền và nghĩa vụ. Vì vậy, Thẩm phán phải giải thích cho đương sự biết quyền được yêu cầu Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu.

      Từ đó, em xin đưa ra kiến nghị khắc phục hai vấn đề trên: Thứ nhất, cần tái ghi nhận quyền khởi kiện VADS cho chủ thể từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi bằng văn bản hướng dẫn mới hoặc thống nhất tiếp tục áp dụng tinh thần của Bộ luật 2004. Thứ hai, cần thống nhất trách nhiệm của Tòa án đối với việc giải thích, cung cấp thông tin cho các đương sự về thời hiệu khởi kiện theo quy định của BLTTDS 2015. Ngoài ra, các cơ quan có thẩm quyền cần tích cực, sát sao rà soát, kiểm tra tình trạng tuân thủ, áp dụng pháp luật TTDS nói chung và các quy định về điều kiện khởi kiện nói riêng để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự được đảm bảo trên thực tế.

      Quyền khởi kiện là một quyền năng cơ bản mà pháp luật thừa nhận đối với các chủ thể trong giao lưu dân sự, cũng như trong quá trình bảo vệ những quyền dân sự khác của chủ thể pháp luật, đặc biệt trong quá trình hội nhập ngày nay, khi mà các hành vi xâm phạm quyền dân sự của chủ thể pháp luật ngày càng đa dạng và nhiều phương thức hơn. BLTTDS được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016 với chế định khởi kiện kế thừa và đánh dấu bước phát triển lập pháp hoàn thiện hơn trong luật. Tuy nhiên, trong thực tế các chủ thể thực hiện quyền khởi kiện gặp rất nhiều khó khăn mà xuất phát từ thực trạng còn thiếu vắng các quy định của pháp luật. Do đó, việc cập nhật, hoàn thiện các thiếu sót trên là vô cùng cần thiết, ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền lợi của các chủ thể trên thực tế.

      Do kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều, và điều kiện nghiên cứu còn nhiều khó khăn, việc tiếp cận nguồn tri thức chuyên sâu còn hạn chế, nên việc thực hiện luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự thông cảm của quý thầy, cô giáo.


     Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

      Trân trọng./.


 

Đánh giá post

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *