HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ

  • Điều kiện để hợp đồng có hiệu lực: Chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng phải có NLPLDS, NLHVDS phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; Chủ thể tham gia GDDS hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; Thỏa mãn điều kiện về hình thức.
  • Thời điểm hợp đồng có hiệu lực: thời điểm giao kết hợp đồng; do các bên thỏa thuận luật liên quan có quy định khác

     Để thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng, trong sản xuất, kinh doanh,… giao kết hợp đồng được coi là hành vi pháp lý quan trọng để các chủ thể có thể đạt được mục đích của mình. Tuy nhiên, để việc giao kết hợp đồng có thể phát huy được vai trò của mình thì phải đáp ứng được yêu cầu về hiệu lực của hợp đồng. Vậy hiệu lực của hợp đồng là gì? Và điều kiện để hợp đồng có hiệu lực là gì? Qua bài viết sau đây Tổng đài Luật Quang Huy sẽ giải thích và làm rõ vấn đề này.


Cơ sở pháp lý


Hiệu lực của hợp đồng là gì?

      Hiệu lực của hợp đồng là giá trị pháp lý của hợp đồng làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, ràng buộc các bên không được đơn phương thay đổi hoặc chấm dứt các cam kết trong hợp đồng và có thể phải chịu trách nhiệm dân sự nếu thực hiện không đúng hoặc không thực hiện các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng.

Hiệu lực của hợp đồng là gì?
Hiệu lực của hợp đồng dân sự là gì?

Điều kiện để hợp đồng có hiệu lực

Chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập

      Chủ thể của hợp đồng dân sự là cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác. Cá nhân tham gia giao kết hợp đồng phải là người đã thành niên, người không bị mất năng lực hành vi dân sự, không phải là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, không phải là người bị hạn chế năng lực hành vi, thì có quyền xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng do mình xác lập.

      Những cá nhân chưa thành niên, cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự, cá nhân có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hoặc cá nhân bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý (Khoản 1 Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015) trừ những trường hợp pháp luật cho phép những đối tượng trên được xác lập, thực hiện hợp đồng dân sự sau:

  • Hợp đồng dân sự được xác lập bởi người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó.
  • Hợp đồng dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập hợp đồng với họ.
  • Hợp đồng dân sự được người giao kết hợp đồng thừa nhận hiệu lực hợp đồng sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.

Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện

      Pháp luật quy định một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là sự tự nguyện của chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng. Tự nguyện là tự do định đoạt ý chí, không bị ép buộc, dọa nạt, lừa dối và không bị người khác áp đặt ý chí. Chủ thể giao kết hợp đồng tự mình lựa chọn chủ thể tham gia, lựa chọn đối tượng của hợp đồng, lựa chọn giá cả, thời hạn, địa điểm và các sự lựa chọn khác trong việc xác lập hợp đồng dân sự.

Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

      Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Thông thường, nội dung của hợp đồng gồm các điều khoản, như: đối tượng của hợp đồng là tài sản hay công việc; số lượng, chất lượng của đối tượng đó; giá và phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm thực hiện hợp đồng….

      Bất kỳ điều khoản nào trong số đó vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì hợp đồng cũng bị coi là vô hiệu. Để hợp đồng có hiệu lực thì mục đích của hợp đồng cũng phải không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.

Thỏa mãn điều kiện về hình thức bắt buộc của hợp đồng dân sự trong trường hợp luật có quy định

      Ở Việt Nam, có tính hệ thống trong việc xác định các giao dịch là phải có chứng thực của cơ quan hành chính hoặc chứng nhận của công chứng. Tuy nhiên, quy định này không cứng nhắc và không coi là điều kiện bắt buộc để giao dịch dân sự có hiệu lực. Nó chỉ áp dụng với một số giao dịch nhất định theo quy định của pháp luật là cần phải công chứng chứng thực vi dụ như: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển quyền sở hữu nhà ở..


Thời điểm hợp đồng có hiệu lực

      Khoản 1 Điều 401 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng như sau:

Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.

      Như vậy, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được xác định vào một trong ba thời điểm sau:

Hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết hợp đồng

      Khi các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định khác thì hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết hợp đồng. Pháp luật quy định các thời điểm giao kết hợp đồng như sau:

  • Hợp đồng được thỏa thuận trực tiếp bằng lời nói thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận của bên được đề nghị.
  • Nếu hợp đồng giao kết bằng văn bản thì thời điểm giao kết là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản.
  • Nếu hợp đồng giao kết bằng thư tín, qua bưu điện thì hợp đồng được giao kết vào ngày bên đề nghị nhận được thư trả lời chấp nhận hợp lệ.
  • Nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật về hợp đồng có quy định im lặng là đồng ý giao kết hợp đồng thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm hết thời hạn trả lời mà bên được đề nghị vẫn im lặng.
  • Hợp đồng được giao kết bằng phương tiện điện tử thì việc giao kết còn phải tuân theo các quy định đặc thù của pháp luật về giao dịch điện tử.

      Về nguyên tắc, hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm giao kết. Tuy nhiên, nếu các bên có thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng khác với thời điểm giao kết thì thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng được xác định vào thời điểm đó. Theo logic thì thời điểm hợp đồng có hiệu lực do các bên thỏa thuận phải sau thời điểm giao kết và không được trái pháp luật hay trái với bản chất của hợp đồng.

Hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm luật liên quan có quy định khác

      Trong những trường hợp đặc thù thể hiện bản chất của hợp đồng hoặc cần có sự kiểm soát chặt chẽ về hiệu lực của hợp đồng và để bảo vệ các bên, pháp luật có nhữn

Hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm do các bên thỏa thuận

g quy định riêng về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Chẳng hạn:

      Điều 48 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời điểm hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực như sau:

Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận được tài sản, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực từ thời điểm đăng ký.

      Khoản 2 Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời điểm hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực như sau:

Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

      Điều 503 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất như sau:

Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật Đất đai.

      Điều 148 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009 quy định hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp như sau:

1. Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật này, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.

2. Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật này, hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có hiệu lực theo thoả thuận giữa các bên, nhưng chỉ có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.

Hiệu lực của hợp đồng
Hiệu lực của hợp đồng

Hợp đồng vô hiệu

      Hợp đồng vô hiệu là những hợp đồng không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng do pháp luật quy định nên không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Pháp luật quy định các trường hợp hợp đồng vô hiệu như sau:

      Thứ nhất, hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện về năng lực chủ thể.

  • Hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.
  • Hợp đồng do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

      Thứ hai, hợp đồng vô hiệu do vi phạm về điều kiện về ý chí, sự tự nguyện của chủ thể.

  • Hợp đồng vô hiệu do giả tạo.
  • Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn.
  • Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép.

Thứ ba, hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

      Thứ tư, hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức bắt buộc.

      Thứ năm, hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được

      Hợp đồng vô hiệu không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

      Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Tuy nhiên, pháp luật có quy định loại trừ việc áp dụng quy định này với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, mối quan hệ về hiệu lực giữa hợp đồng bảo đảm với hợp đồng chính sẽ được pháp luật về biện pháp bảo đảm có quy định riêng.

      Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.


      Trên đây là phần giải đáp của chúng tôi về vấn đề hiệu lực của hợp đồng dân sự. Nếu còn gì thắc mắc hay chưa rõ bạn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Tổng đài tư vấn luật dân sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được hỗ trợ cụ thể.

      Trân trọng ./.


 

Bài viết liên quan bạn nên xem
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
G