QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÍN CHẤP THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ

      Trong nền kinh tế của mỗi quốc gia hiện nay, hoạt động bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có vai trò đặc biệt quan trọng, là công cụ để bảo đảm quyền lợi cho chủ thể quyền trong quan hệ. Bên cạnh mục tiêu chung là hướng tới lợi ích của các chủ thể trong xã hội, thì ngoài ra biện pháp bảo đảm còn được quy định nhằm giúp đỡ những cá nhân, hộ gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Đó cũng là nguyên nhân mà biện pháp bảo đảm tín chấp ra đời và được kế thừa đến Bộ luật Dân sự 2015. Vậy vay tín chấp là gì? Hợp đồng vay tín chấp được pháp luật quy định như thế nào? Bài viết sau đây của Luật NQH Việt Nam sẽ trình bày cụ thể về hợp đồng vay tín chấp.


Căn cứ pháp lý


Vay tín chấp là gì?

      Tín chấp là một hình thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong đó có tổ chức chính trị – xã hội cơ sở cam kết với các tổ chức tín dụng bằng uy tín của mình nhằm bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại các tổ chức tín dụng để tổ chức, kinh doanh, làm dịch vụ theo quy định của pháp luật.

      Nhìn nhận tín chấp dưới các góc độ khác nhau, có thể thấy:

  • Dưới góc độ khách quan: Tín chấp là tập hợp các quy định của pháp luật quy định về hình thức tín chấp, gồm các nội dung như: chủ thể bảo đảm tín chấp, chủ thể được vay tín chấp, mục đích vay tín chấp,…
  • Dưới góc độ chủ quan: Tín chấp là một giao dịch bảo đảm, cụ thể là hợp đồng tín chấp, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên. Với tính chất là một giao dịch bảo đảm, giao dịch thế chấp phải tuân thủ các quy định của pháp luật được áp dụng chung cho các giao dịch.
Vay tín chấp

Vay tín chấp


Chủ thể của hợp đồng tín chấp

Bên được bảo đảm

      Chủ thể được vay tín chấp bao gồm cá nhân, hộ gia đình nghèo. Hiện nay, việc xác định chuẩn nghèo được căn cứ theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. Trên thực tế, để xác định các hộ gia đình nghèo thì căn cứ vào danh sách được lập trên địa bàn các xã, phường. Những hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận hộ nghèo để được hưởng các chính sách ưu đãi của nhà nước. 

      Sở dĩ, chỉ cá nhân, hộ gia đình nghèo mới được vay tín chấp bởi lẽ biện pháp tín chấp không đòi hỏi cá nhân, hộ gia đình phải dùng lợi ích vật chất để bảo đảm, phù hợp với điều kiện kinh tế của cá nhân, hộ gia đình nghèo. Hơn nữa, vay tín chấp tại các Ngân hàng chính sách xã hội là chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước nhằm thực hiện công cuộc xóa đói, giảm nghèo cho nhân dân.

      Tuy nhiên, không phải cá nhân, hộ gia đình nghèo nào cũng được vay tín chấp mà theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 12 năm 2006 quy định về giao dịch bảo đảm thì cá nhân, hộ gia đình nghèo phải thỏa mãn những điều kiện nhất định, cụ thể:

Cá nhân, hộ gia đình nghèo được bảo đảm bằng tín chấp phải là thành viên của một trong các tổ chức chính trị – xã hội quy định tại Điều 50 Nghị định này.

      Quy định này xuất phát từ việc tổ chức chính trị – xã hội là bên đứng ra bảo đảm cho khoản vay của cá nhân, hộ gia đình nghèo nên họ phải nắm rõ tình hình kinh tế, giáo dục, y tế,… của người vay. Do đó, cá nhân, hộ gia đình nghèo phải là thành viên của những tổ chức này.

Bên bảo đảm

      Đối với việc bảo đảm bằng tín chấp, bên bảo đảm là các tổ chức chính trị – xã hội cơ sở. Theo quy định tại Điều 50 Nghị định 163/2006/NĐ-CP thì:

Đơn vị tại cơ sở của các tổ chức chính trị – xã hội sau đây là bên bảo đảm bằng tín chấp:

1. Hội Nông dân Việt Nam;

2. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

3. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;

4. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

5. Hội Cựu chiến binh Việt Nam;

6. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

     Các tổ chức chính trị trên được quy định là bên đảm bảo bởi:



  • Mặc dù mỗi một tổ chức, chính trị – xã hội có mục đích hoạt động khác nhau, tuy nhiên, các tổ chức chính trị – xã hội đều có mục đích chung là hướng tới lợi ích của cộng đồng, giải quyết các vấn đề trong xã hội nhằm nâng cao bảo vệ quyền lợi cho các thành viên của hội. Biện pháp tín chấp với tư cách là biện pháp bảo đảm cho khoản vay của cá nhân, hộ gia đình nghèo thì việc các tổ chức chính trị – xã hội đứng ra bảo đảm hoàn toàn phù hợp với phương châm và mục đích của hội.
  • Đối tượng của biện pháp tín chấp là uy tín mà không phải là lợi ích vật chất, do đó cần thiết phải lựa chọn các chủ thể có uy tín cao và có uy tín với nhiều người. Các tổ chức chính trị – xã hội là những chủ thể có truyền thống thành lập và hoạt động từ lâu đời, hướng tới lợi ích chung của cộng đồng nên đây là những chủ thể tạo được niềm tin lớn từ quần chúng nhân dân và các chủ thể khác trong xã hội.
  • Thành viên của tổ chức chính trị – xã hội là cá nhân, hộ gia đình nghèo được vay tín chấp thì chính tổ chức chính trị – xã hội là chủ thể bảo đảm nên việc lựa chọn bên bảo đảm là các tổ chức chính trị – xã hội tạo điều kiện thuận lợi trong vấn đề nắm bắt tình hình kinh tế của cá nhân, hộ gia đình; đồng thời, trong quá trình sử dụng tiền vay và trong vấn đề trả nợ, tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở có thể kiểm soát và giám sát

Bên nhận bảo đảm

      Bên nhận bảo đảm trong biện pháp tín chấp đồng thời là bên cho vay trong hợp đồng vay là các tổ chức tín dụng. Khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định:

Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.

      Như vậy, các tổ chức tín dụng bao gồm:

      Thứ nhất, ngân hàng

      Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.

      Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận.

      Ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân do các quỹ tín dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân.

      Ngân hàng chính sách là ngân hàng được thành lập để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.

      Thứ hai, tổ chức tín dụng phi ngân hàng

      Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.

      Công ty cho thuê tài chính là loại hình công ty tài chính có hoạt động chính là cho thuê tài chính theo quy định của Luật này.

      Thứ ba, tổ chức tài chính vi mô

      Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.

      Thứ tư, quỹ tín dụng nhân dân

      Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống.


Đối tượng của hợp đồng tín chấp

      Khác với các biện pháp bảo đảm khác, tín chấp là biện pháp duy nhất trong các biện pháp bảo đảm đang được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 2015 có đối tượng không phải là lợi ích vật chất. Đối tượng của biện pháp tín chấp là uy tín, cụ thể là uy tín của các tổ chức chính trị – xã hội.

      Theo từ điển Tiếng Việt, uy tín là sự tín nhiệm và mến phục được mọi người công nhận. Uy tín gắn liền với một lĩnh vực hoạt động, diễn ra trong không gian, thời gian xác định. Uy tín là giá trị nhân thân của cá nhân hay tổ chức. Uy tín của các chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ trong các văn bản khác nhau.

      Sở dĩ, uy tín có thể trở thành một đối tượng của biện pháp bảo đảm bởi:

  • Mặc dù uy tín không phải là lợi ích vật chất nhưng việc bảo đảm bằng uy tín được thừa nhận từ lâu đời trong cả đời sống xã hội và trong các văn bản pháp lý.
  • Uy tín của chủ thể là yếu tố quan trọng trong việc xác định giá trị của con người cũng như của tổ chức. Thực tế cho thấy, rất nhiều các chủ thể coi trọng uy tín hơn tiền bạc, đặc biệt là đối với các chủ thể làm ăn, kinh doanh thì chữ tín được đặt hàng đầu. Đặc biệt hơn nữa, uy tín là một trong số ít các giá trị nhân thân được pháp luật thừa nhận bảo vệ ngay cả sau khi cá nhân chết.

Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hợp đồng tín chấp

Quyền và nghĩa vụ của bên được bảo đảm

Quyền của bên được bảo đảm

      Bên được bảo đảm có quyền lựa chọn biện pháp bảo đảm bằng tín chấp để có điều kiện thuận lợi phục vụ đời sống, sản xuất, kinh doanh… của mình.

Nghĩa vụ của bên được bảo đảm

      Thứ nhất, sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết

      Với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo nhằm cải thiện chất lượng đời sống cho cá nhân, hộ gia đình thì những chủ thể này khi vay vốn phải sử dụng vốn theo đúng mục đích đã cam kết nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Hơn nữa, việc cá nhân, hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay đúng mục đích nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong việc khai thác vốn vay, qua đó bảo đảm cho việc trả nợ của cá nhân, hộ gia đình nghèo với các tổ chức tín dụng.

      Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng và tổ chức chính trị – xã hội kiểm tra việc sử dụng vốn vay

      Bên vay tín chấp phải tạo điều kiện thuận lợi cho bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm kiểm tra việc sử dụng vốn vay để tránh việc lãng phí, thất thoát vốn vay do những chủ thể này sử dụng không đúng mục đích vay. Các hành vi gây khó khăn, tạo minh chứng giả trong việc sử dụng vốn vay nhằm đánh lừa tổ chức tín dụng và tổ chức chính trị – xã hội được xem là hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên vay và phải chịu trách nhiệm dân sự theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.

      Thứ ba, trả nợ đầy đủ gốc và lãi vay đúng hạn cho tổ chức tín dụng

      Hợp đồng vay là hợp đồng chuyển quyền sở hữu tài sản, theo đó bên vay được quyền sử dụng, định đoạt tài sản vay; khi đến hạn trả nợ, bên vay có trách nhiệm trả đầy đủ cả gốc và lãi cho bên cho vay.

      Với tính chất là một chính sách xã hội, việc cho vay tiền có bảo đảm bằng tín chấp bao gồm cả thỏa thuận về lãi. Thông thường, mức lãi suất vay được ấn định trong các văn bản pháp luật, đây là những mức lãi suất ưu đãi, rất thấp so với lãi suất vay trên thị trường.

      Trong trường hợp khi đến hạn trả nợ mà cá nhân, hộ gia đình nghèo không trả thì họ còn phải chịu thêm khoản tiền lãi quá hạn đối với số tiền gốc chưa trả theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.

Quyền và nghĩa vụ của bên bảo đảm

Quyền của bên bảo đảm

Điều 52 Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định:

Tổ chức chính trị – xã hội có quyền từ chối bảo đảm bằng tín chấp, nếu xét thấy cá nhân, hộ gia đình nghèo không có khả năng sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và trả nợ cho tổ chức tín dụng.

      Các tổ chức chính trị – xã hội có quyền đồng ý hoặc từ chối bảo đảm cho khoản vay của cá nhân, hộ gia đình nghèo trước tổ chức tín dụng. Nếu xét thấy cá nhân, hộ gia đình nghèo không có khả năng sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và trả nợ cho các tổ chức tín dụng thì các tổ chức chính trị – xã hội được từ chối bảo đảm. Nhằm đảm bảo sự khách quan trong việc từ chối bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn thì các tổ chức chính trị – xã hội phải chứng minh được lý do từ chối của mình.

Nghĩa vụ của bên bảo đảm

      Theo quy định tại Điều 51 Nghị định 163/2006/NĐ-CP thì tổ chức chính trị – xã hội đứng ra bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay tín chấp có các nghĩa vụ sau đây:

      Thứ nhất, xác nhận theo yêu cầu của tổ chức tín dụng về điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân, hộ gia đình nghèo khi vay vốn tại tổ chức tín dụng đó.

      Thứ hai, chủ động hoặc phối hợp chặt chẽ với tổ chức tín dụng giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn; giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả; đôn đốc trả nợ đầy đủ, đúng hạn cho tổ chức tín dụng.

Quyền và nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm

Quyền của bên nhận bảo đảm

      Theo quy định tại Điều 54 Nghị định 163/2006/NĐ-CP, tổ chức tín dụng có quyền “yêu cầu tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp phối hợp trong việc kiểm tra sử dụng vốn vay và đôn đốc trả nợ”. 

      Tổ chức chính trị – xã hội cơ sở là chủ thể đặt trên địa bàn có cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn nên đây là tổ chức có điều kiện thuận lợi trong việc kiểm tra, giám sát bên vay trong quá trình sử dụng vốn vay. Do đó, tổ chức tín dụng được quyền yêu cầu tổ chức chính trị – xã hội phải thực hiện nghĩa vụ này. Khi đến hạn trả nợ, tổ chức tín dụng được quyền yêu cầu tổ chức chính trị – xã hội đôn đốc cá nhân, hộ gia đình nghèo thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết với tổ chức tín dụng đã cho vay.

Nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm

      Theo quy định tại Điều 53 Nghị định 163/2006/NĐ-CP, tổ chức tín dụng có nghĩa vụ phối hợp với tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp trong việc cho vay và thu hồi nợ.


Hình thức và nội dung của hợp đồng tín chấp

Hình thức của hợp đồng tín chấp

      Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có xác nhận của tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp về điều kiện, hoàn cảnh của bên vay vốn. Lý giải quy định này, có quan điểm cho rằng bởi biện pháp tín chấp được quy định trong hợp đồng vay tài sản, do đó thỏa thuận vay tài sản được lập thành văn bản thì tín chấp đương nhiên phải được lập thành văn bản.

Nội dung của hợp đồng tín chấp

      Thỏa thuận bảo đảm bằng tín chấp phải cụ thể về số tiền, mục đích, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp. Cụ thể:

  • Số tiền vay: Số tiền vay được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật về việc cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn và được áp dụng như nhau đối với các chủ thể này.
  • Mục đích vay tín chấp: Vay tín chấp luôn có quy định cụ thể về mục đích vay. Mục đích vay trong tín chấp thường hướng đến việc sản xuất, kinh doanh, trồng trọt, chăn nuôi,…
  • Thời hạn vay: Thời hạn vay được quy định cụ thể trong các văn bản pháp lý. Bên cạnh việc xác định thời hạn vay theo đơn vị thời gian, thời hạn vay còn được xác định theo một sự kiện nhất định ( Ví dụ: Cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay tín chấp để đi xuất khẩu lao động thì thời hạn vay theo thời gian đi xuất khẩu lao động).
  • Lãi suất: Lãi suất được quy định cụ thể trong các văn bản quy định về chương trình cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay tín chấp. Có thể coi đây là một hình thức vay vốn lãi suất thấp bởi lãi suất trong vay tín chấp thường thấp hơn so với lãi suất thông thường.
  • Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể: Bao gồm người vay, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp.

      Trên đây là phần giải đáp của chúng tôi về vấn đề vay tín chấp. Nếu còn gì thắc mắc hay chưa rõ bạn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Tổng đài tư vấn luật dân sự trực tuyến của Luật NQH Việt Nam để được hỗ trợ cụ thể.

      Trân trọng ./.


Bạn có thể tham khảo thêm:




Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of
G