NGHỊ ĐỊNH 11/2012/NĐ-CP SỬA ĐỔI BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU NGHỊ ĐỊNH 163/2006/NĐ-CP VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

      Ngày 22 tháng 02 năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP. Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ 20 điều, khoản của Nghị định 163/2006/NĐ-CP và có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 4 năm 2012. Để góp phần làm rõ các thay đổi của pháp luật về giao dịch bảo đảm theo Nghị định 11/2012/NĐ-CP, Luật Quang Huy sẽ giới thiệu những nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu của Nghị định 11/2012/NĐ-CP có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng khi ký kết, thực hiện giao dịch bảo đảm trong bài viết dưới đây.


Căn cứ pháp lý


Tóm tắt nội dung Nghị định số 11/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP

      Nghị định 11/2012/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, nội dung chủ yếu quy định về các vấn đề như sau:

  • Sửa đổi một số vấn đề về các vấn đề về giao dịch bảo đảm, các bên trong giao dịch bảo đảm, tài sản bảo đảm, một số quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch bảo đảm, tài sản bảo đảm và xử lí tài sản bảo đảm.
  • Bổ sung các vấn đề về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai, tài sản bảo đảm là tàu bay, tàu biển, thứ tự ưu tiên thanh toán, người xử lý tai sản bảo đảm….
Nghị định 11/2012/NĐ-CP
Nghị định 11/2012/NĐ-CP

Nội dung Nghị định 11/2012/NĐ-CP

      Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm có nội dung chủ yếu như sau:

TẢI NGHỊ ĐỊNH 11/2012/NĐ-CP

CHÍNH PHỦ
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 11/2012/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 22 tháng 02 năm 2012

NGHỊ ĐỊNH

VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 163/2006/NĐ-CP NGÀY 29 THÁNG 12 NĂM 2006 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Bộ luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm như sau:

1. Sửa đổi khoản 1 và khoản 9 Điều 3 như sau:

“1. Bên bảo đảm là bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình, dùng quyền sử dụng đất của mình, dùng uy tín hoặc cam kết thực hiện công việc đối với bên nhận bảo đảm để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của chính mình hoặc của người khác, bao gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên ký quỹ, bên bảo lãnh và tổ chức chính trị – xã hội tại cơ sở trong trường hợp tín chấp.”

“9. Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch.”

2. Sửa đổi khoản 1 và khoản 2 Điều 4 như sau:

“1. Tài sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch.”

“2. Tài sản hình thành trong tương lai gồm:

a) Tài sản được hình thành từ vốn vay;

b) Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm;

c) Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật.

Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất.”


Những thay đổi của Nghị định 11/2012/NĐ-CP so với Nghị định 163/2006/NĐ-CP

Về loại tài sản hình thành trong tương lai được sử dụng làm tài sản bảo đảm

      Khác với quy định chung của Nghị định 163/2006/NĐ-CP về tài sản hình thành trong tương lai, Nghị định 11/2012/NĐ-CP đã quy định cụ thể về các loại tài sản hình thành trong tương lai được sử dụng làm tài sản bảo đảm bao gồm:

  • Tài sản hình thành từ vốn vay;
  • Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm;
  • Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật.

      Đồng thời, Nghị định 11/2012/NĐ-CP cũng quy định rõ tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất.

Về giao dịch bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai

      Nghị định 163/2006/NĐ-CP không quy định về xử lý tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai. Đây là một thiếu sót dẫn tới khó khăn giải quyết các trường hợp trên thực tế. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nhận tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai, người mua, người nhận chuyển nhượng tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai, Nghị định 11/2012/NĐ-CP đã quy định rõ ràng hơn về quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai, trách nhiệm của cơ quan nhà nước khi thực hiện xử lý tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai, cụ thể như sau:

      Thứ nhất, bên nhận bảo đảm có các quyền đối với một phần hoặc toàn bộ tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai khi bên bảo đảm có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản bảo đảm đó. Đối với loại tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu mà bên bảo đảm chưa đăng ký thì bên nhận bảo đảm vẫn có quyền xử lý tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai khi đến hạn xử lý.

      Thứ hai, khi tài sản hình thành trong tương lai bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ dân sự thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ kết quả xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản cho người mua hoặc người nhận tài sản ngay khi có kết quả xử lý tài sản bảo đảm.

Về thực hiện giao dịch bảo đảm cho nghĩa vụ phát sinh trong tương lai

      Nghị định 11/2012/NĐ-CP cũng bổ sung thêm quy định về việc thực hiện giao dịch bảo đảm cho nghĩa vụ trong phát sinh tương lai nhằm tạo lập cơ sở pháp lý cho việc sử dụng một tài sản bảo đảm để bảo đảm cho việc thực hiện nhiều nghĩa vụ (bao gồm cả nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ hình thành trong tương lai).

      Theo quy định mới này, khi thực hiện giao dịch bảo đảm cho nghĩa vụ phát sinh trong tương lai, bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm không bắt buộc phải thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng bảo đảm về phạm vi của nghĩa vụ bảo đảm và thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo đảm; đồng thời khi nghĩa vụ được bảo đảm trong tương lai được hình thành, các bên không phải đăng ký thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm đã đăng ký.

Về việc thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện thủy nội địa, phương tiện giao thông đường sắt

      Nhằm kiểm soát tốt hơn việc chuyển dịch tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện thủy nội địa, phương tiện giao thông đường sắt, Nghị định 11/2012/NĐ-CP đã bổ sung thêm quy định về trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký lưu hành phương tiện giao thông khi thực hiện đăng ký các giao dịch chuyển dịch quyền sở hữu các tài sản bảo đảm này, cụ thể như sau:

  • Sau khi đăng ký thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện thủy nội địa, phương tiện giao thông đường sắt và người yêu cầu đăng ký đã nộp phí yêu cầu cấp bản sao văn bản chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm, thì cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm gửi 01 bản sao văn bản chứng nhận đăng ký đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký lưu hành phương tiện giao thông. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký phương tiện giao thông phải cập nhật thông tin về việc phương tiện giao thông đang được thế chấp ngay trong ngày nhận được bản sao văn bản chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm.
  • Sau khi xóa đăng ký thế chấp và người yêu cầu xóa đăng ký đã nộp phí yêu cầu cấp bản sao văn bản chứng nhận xóa đăng ký giao dịch bảo đảm thì cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm gửi 01 bản sao văn bản chứng nhận xóa đăng ký đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký phương tiện giao thông để cập nhật thông tin về việc phương tiện giao thông đó đã được xóa thế chấp.
  • Trong trường hợp có yêu cầu cấp lại, cấp đổi Giấy đăng ký phương tiện giao thông hoặc chuyển quyền sở hữu đối với phương tiện giao thông đang được ghi nhận là tài sản thế chấp mà chưa có văn bản chứng nhận xóa đăng ký giao dịch bảo đảm thì chủ sở hữu phương tiện giao thông phải xuất trình 01 bản sao có chứng thực hoặc 01 bản sao để đối chiếu với bản chính văn bản giải chấp hoặc văn bản đồng ý của bên nhận thế chấp phương tiện giao thông đó.

       Ngoài ra, Nghị định 11/2012/NĐ-CP cũng bổ sung quy định cho phép bên thế chấp khi nhận tài sản thế chấp là tàu bay, tàu biển hoặc phương tiện giao thông được giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu tàu bay, Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam, Giấy đăng ký phương tiện giao thông trong thời hạn hợp đồng thế chấp có hiệu lực.

 Về đầu tư vào tài sản thế chấp

      Nghị định 163/2006/NĐ-CP có quy định về đầu tư để tăng giá trị tài sản thế chấp của bên thế chấp, người thứ ba; quy định thế chấp phần tài sản tăng thêm. Bên cạnh các quy định đó, Nghị định 11/2012/NĐ-CP đã bổ sung thêm quy định về quyền của bên đã đầu tư vào tài sản thế chấp khi xử lý tài sản thế chấp như sau:

  • Trường hợp phần tài sản tăng thêm do đầu tư có thể tách rời khỏi tài sản thế chấp mà không làm mất hoặc giảm giá trị của tài sản thế chấp thì khi xử lý tài sản bảo đảm, người đã đầu tư vào tài sản thế chấp có quyền tách phần tài sản tăng thêm do đầu tư ra khỏi tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
  • Trường hợp phần tài sản tăng thêm do đầu tư không thể tách rời khỏi tài sản thế chấp hoặc nếu tách rời sẽ làm mất hoặc giảm giá trị của tài sản thế chấp, thì người đã đầu tư vào tài sản thế chấp không được tách phần tài sản tăng thêm do đầu tư ra khỏi tài sản thế chấp, nhưng khi xử lý tài sản thế chấp thì người đã đầu tư vào tài sản thế chấp được ưu tiên thanh toán phần giá trị tăng thêm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Về xử lý tài sản của người bảo lãnh

      Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo lãnh, làm rõ hơn trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh, Nghị định 11/2012/NĐ-CP đã bổ sung quy định mới cho phép người nhận bảo lãnh được xử lý tài sản của người bảo lãnh khi người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo thỏa thuận như sau:

  • Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì tài sản cầm cố, thế chấp được xử lý theo quy định thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh;
  • Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về việc cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên nhận bảo lãnh xử lý theo yêu cầu của bên nhận bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu bên bảo lãnh không giao tài sản thì bên nhận bảo lãnh có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật.
  • Tại thời điểm xử lý tài sản của bên bảo lãnh nếu bên bảo lãnh không có tài sản để xử lý hoặc khoản tiền thu được từ việc xử lý tài sản không đủ thanh toán nghĩa vụ được bảo lãnh thì trong phạm vi nghĩa vụ được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải giao tài sản có được sau thời điểm xử lý cho mình để tiếp tục xử lý.

Về thứ tự ưu tiên thanh toán khi có nhiều bên cùng nhận bảo đảm

       Nghị định 11/2012/NĐ-CP đã quy định cụ thể cách thức xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi có nhiều bên cùng nhận bảo đảm. Cụ thể như sau:

  • Đối với trường hợp có nhiều bên cùng nhận bảo lãnh, thì các bên cùng nhận bảo lãnh có cùng thứ tự ưu tiên thanh toán. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản của bên bảo lãnh được chia cho các bên cùng nhận bảo lãnh theo tỷ lệ tương ứng với nghĩa vụ được bảo lãnh;
  • Đối với trường hợp có nhiều bên cùng nhận bảo đảm bao gồm bên nhận bảo lãnh, bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp, bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược, bên nhận ký quỹ và nếu hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng đặt cọc, hợp đồng ký cược, hợp đồng ký quỹ đã được đăng ký theo quy định của pháp luật thì bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp, bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược, bên nhận ký quỹ được ưu tiên thanh toán trước bên nhận bảo lãnh.
  • Đối với trường hợp có nhiều bên cùng nhận bảo đảm bao gồm bên nhận bảo lãnh, bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp, bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược, bên nhận ký quỹ và nếu hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng đặt cọc, hợp đồng ký cược, hợp đồng ký quỹ chưa đăng ký theo quy định của pháp luật thì thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận bảo lãnh với bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp, bên nhận đặt cọc, bên nhận ký cược, bên nhận ký quỹ được xác định theo thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm.

Về xử lý tài sản bảo đảm

      Để khắc phục các bất cập đã nảy sinh trong thực tiễn về việc xử lý tài sản bảo đảm, Nghị định 11/2012/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về xử lý tài sản bảo đảm, về quyền xử lý tài sản bảo đảm, về xử lý tài sản bảo đảm theo phương thức bán tài sản bảo đảm, về xử lý tài sản bảo đảm theo phương thức nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm, về xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, nhà ở.

Về thay đổi giao dịch bảo đảm

      Về trình tự, thủ tục thực hiện giao dịch bảo đảm, Nghị định 11/2012/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung các quy định về một số trường hợp thay đổi chủ thể giao dịch bảo đảm, như trường hợp tổ chức lại pháp nhân. Nghị định 11/2012/NĐ-CP quy định đối với trường hợp giao dịch bảo đảm được ký kết trước khi một trong các bên tham gia giao dịch bảo đảm thực hiện việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi pháp nhân, và giao dịch bảo đảm vẫn còn hiệu lực, thì các bên không phải ký kết lại giao dịch bảo đảm đó khi tổ chức lại pháp nhân. Tuy nhiên pháp nhân mới phải xuất trình văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc tổ chức lại pháp nhân để thực hiện đăng ký thay đổi nếu giao dịch bảo đảm đã được đăng ký.

      Nghị định 11/2012/NĐ-CP quy định trường hợp quyền đòi nợ được chuyển giao có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, thì các bên không phải ký kết lại giao dịch bảo đảm. Khi thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi bên nhận bảo đảm theo quy định của pháp luật thì bên nhận chuyển giao quyền đòi nợ xuất trình hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ để chứng minh sự thay đổi.

      Ngoài các nội dung mới nêu trên, Nghị định 11/2012/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung quy định về khái niệm “bên  bảo đảm”, “giấy tờ có giá”; các quy định về cầm cố giấy tờ có giá; quy định về thông báo việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ. Đặc biệt, Nghị định 11/2012/NĐ-CP cũng khẳng định lại việc bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất theo các quy định hiện hành được chuyển thành thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác.


      Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi cung cấp đến bạn về vấn đề: Nghị định 11/2012/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật hiện hành. Để được tư vấn cụ thể hơn bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy.

      Trân trọng./.


 

Bài viết liên quan bạn nên xem
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
G