NGHỊ QUYẾT 04/2003/NQ-HĐTP VỀ HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC GIẢI QUYÊT CÁC VỤ ÁN KINH TẾ

     Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, phù hợp với thực tiễn sản xuất kinh doanh trong điều kiện hiện nay, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP ngày 27/05/2003 để hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 11/07/2003. Bài viết dưới đây của Luật Quang Huy sẽ thông tin đến bạn nội dung Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP.


Cơ sở pháp lý


Tóm tắt Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP

      Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hội đồng Thẩm phán nhân dân tối cao đã ra Nghị quyết 04/203/NQ-HĐTP để hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế. Cụ thể trong những trường hợp sau:

      Việc xác định hợp đồng kinh tế vô hiệu

     Việc xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu:

  • Đối với tài sản là động sản
  • Đối vơi tài sản là bất động sản hoặc quyền sử dụng đất
  • Trách nhiệm chịu thiệt hại do hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu toàn bộ

      Việc áp dụng điểm 3 Điều 32 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế

      Hiệu lực thi hành của nghị quyết

Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP

Nội dung Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP

      Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế có nội dung như sau:

TẢI NGHỊ QUYẾT 04/2003/NQ-HĐTP

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Số: 04/2003/NQ-HĐTP

Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 2003

NGHỊ QUYẾT

CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 04/2003/NQ-HĐTP NGÀY 27 THÁNG 5 NĂM 2003 HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH TẾ

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ vào Luật tổ chức Toà án nhân dân;
Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, phù hợp với thực tiễn sản xuất kinh doanh trọng điều kiện hiện nay;
Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

QUYẾT NGHỊ:

I. VIỆC XÁC ĐỊNH HỢP ĐỒNG KINH TẾ VÔ HIỆU

1. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (sau đây viết tắt là Pháp lệnh HĐKT) thì hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu toàn bộ khi “một trong các bên ký kết hợp đồng kinh tế không có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc đã thoả thuận trong hợp đồng”. Khi áp dụng quy định này cần phân biệt như sau:

a. Nếu khi ký kết hợp đổng kinh tế một trong các bên chưa có đăng ký kinh doanh mà trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế giữa các bên có phát sinh tranh chấp và đến trước thời điểm phát sinh tranh chấp, bên chưa có đăng ký kinh doanh khi ký kết hợp đồng kinh tế vẫn chưa có đăng ký kinh doanh để thực hiện công việc được các bên thoả thuận trong hợp đồng, thì hợp đồng kinh tế này thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh HĐKT và bị coi là vô hiệu toàn bộ.

Ví dụ: Trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty A chưa có đăng ký ngành nghề xây dựng công nghiệp, nhưng Công ty A đã ký hợp đồng kinh tế về việc nhận thầu thi công xây dựng nhà xưởng cho Công ty B. Trong quá trình thi công, giữa các bên có phát sinh tranh chấp từ việc thực hiện hợp đồng và một trong các bên khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết. Khi giải quyết vụ án này, nếu có đủ căn cứ cho thấy đến trước thời điểm phát sinh tranh chấp Công ty A vẫn chưa được đăng ký bổ sung ngành nghề xây dựng công nghiệp thì Toà án áp dụng điểm b khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh HĐKT tuyên bố hợp đồng kinh tế này vô hiệu toàn bộ và xử lý hợp đồng kinh tế vô hiệu theo quy định tại Điều 39 Pháp Lệnh HĐKT.

b. Nếu khi ký kết hợp đồng kinh tế một trong các bên chưa có đăng ký kinh doanh, nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế giữa các bên có phát sinh tranh chấp và đến trước thời điểm phát sinh tranh chấp, bên chưa có đăng ký kinh doanh khi ký kết hợp đồng đã có đăng ký kinh doanh để thực hiện công việc được các bên thoả thuận trong hợp đồng thì hợp đồng kinh tế này không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh HĐKT và do đó không bị coi là vô hiệu toàn bộ.

Ví dụ: Nếu trong ví dụ tại điểm a mục 1 này khi giải quyết vụ án, nếu có đủ căn cứ cho thấy đến trước thời điểm phát sinh tranh chấp Công ty A đã được đăng ký bổ sung ngành nghề xây dựng công nghiệp thì hợp đồng kinh tế này không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh HĐKT và không bị coi là vô hiệu toàn bộ.


Một số văn bản có liên quan Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP

      Nội dung Nghị quyết này có liên quan đến khá nhiều văn bản pháp luật do nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Đưới đây là một số văn bản pháp lý điển hình có liên quan tới Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP.

  • Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: là một hệ thống quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập thủ tục, quyền hạn, trách nhiệm của một chính quyền. Nhiều hiến pháp cũng bảo đảm các quyền nhất định của nhân dân.
  • Luật Tổ chức Chính phủ năm 2002: Luật này quy định về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân.

      Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi cung cấp đến bạn về Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP về hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế theo quy định của pháp luật hiện hành. Để được tư vấn cụ thể hơn bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy.

      Trân trọng ./.


 

Bài viết liên quan bạn nên xem
Subscribe
Notify of
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments