PHÂN TÍCH QUY ĐỊNH VỀ THU NHẬP CHỊU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TỪ PHÁP LỆNH THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ THU NHẬP CAO ĐẾN LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN HIỆN NAY ĐỂ THẤY SỰ HOÀN THIỆN TRONG LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN HIỆN HÀNH ĐÃ BAO QUÁT ĐƯỢC CÁC THU NHẬP CỦA CÁ NHÂN

       Luật Thuế TNCN đã thay thế Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Đây là một đạo luật mới được ban hành tại Việt Nam và được áp dụng các quy định tiên tiến về phương pháp tính thuế, cơ chế quản lý thuế; chú trọng kiểm tra, kiểm soát thu nhập và điều tiết, phân phối lại thu nhập; thu hẹp hợp lý sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư; quy định mới về giảm trừ gia cảnh, giảm trừ một số phụ cấp, trợ cấp, các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo trước khi tính thuế…

       Chính vì lý do đó, trong phần bài tập của mình, em xin trình bày một số hiểu biết về đề tài: “Phân tích quy định về thu nhập chịu thuế Thu nhập cá nhân từ Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đến Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện nay để thấy sự hoàn thiện trong Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành đã bao quát được các thu nhập của cá nhân.”. 


Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Luật thuế thu nhập cá nhân 2014
  • Pháp lệnh về thuế đối với người có thu nhập cao
  • Giáo trình Luật tài chính – NXB Công an nhân dân

Khái quát chung

Thuế thu nhập cá nhân là gì?

       Lần đầu tiên ở Anh vào năm 1799 thuế thu nhập cá nhân được đưa vào thực hiện như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức áp dụng vào năm 1942. Sau đó nhiều nước tư bản phát triển khác cũng áp dụng thuế này như: ở Nhật năm 1887, Ðức 1899, Mỹ 1903, pháp 1916 và Liên Xô năm 1922. trên thế giới có 02 phương pháp đánh thuế: (1) Có nước tính thuế vào từng khoản thu nhập thực tế của mỗi cá nhân, (2) có nước tính thuế trên tổng thu nhập của cả hộ gia đình

       Hiện nay, chưa có định nghĩa chính xác, cụ thể về thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, dựa trên các quy định của pháp luật được ghi nhận tại Luật thuế thu nhập cá nhân, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn, có thể hiểu thuế thu nhập cá nhân như sau: “Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu, tính trên thu nhập của người nộp thuế sau khi đã trừ các thu nhập miễn thuế và các khoản được giảm trừ gia cảnh”.

       Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân. Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế. Người chịu thuế thu nhập cá nhân không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khoá sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế.

       Ở miền Nam Việt Nam trước 1975, chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế thu nhập cá nhân nhưng với tên gọi là thuế lợi tức lương bổng năm 1962 và sau đó được cải cách vào năm 1972. Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (Income Tax on high – Income earner) và đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Để nâng cao hơn nữa tính chất quan trọng và phải có các biện pháp chế tài đủ mạnh để việc thực hiện thu thuế thu nhập cá nhân được đi vào ổn định, có hiệu quả, công bằng, tại kỳ họp Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật số 04/2007/QH12 – Luật thuế thu nhập cá nhân. Luật này có hiệu lực thi hành chính thức từ ngày 01/01/2009.

Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân

       Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định. Phân phối khoản thu nhập qua thuế thu nhập cá nhân gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước.

       Thuế thu nhập cá nhân là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp.

       Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia. hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế thu nhập cá nhân với một số chính sách xã hội khác( như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…).

       Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu. Do vậy, người nộp thuế cũng là người chịu thuế.

       Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước. Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao.

       Việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần. Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao.

       Xét về góc độ kinh tế, thuế thu nhập cá nhân có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế thu nhập cá nhân hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế

Chức năng, vai trò của thuế thu nhập cá nhân

       Góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước: Sự giảm dần các loại thuế xuất nhập khẩu do yêu cầu tự do hóa thương mại nên thuế thu nhập cá nhân ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước. Nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người của cá nhân ngày càng tăng từ đó thuế thu nhập cá nhân sẽ góp phần quan trọng vào việc tăng thu cho ngân sách Nhà nước.

       Góp phần thực hiện công bằng xã hội: Thông thường, thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập cao hơn mức khởi điểm thu nhập chịu thuế, không đánh thuế vào những cá nhân có thu nhập vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết. Thêm vào đó khi thu nhập cá nhân tăng lên thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm. Ở nhiều nước còn có quy định miễn, giảm thuế cho những cá nhân mang gánh nặng xã hội.

       Ở nước ta hiện nay, thu nhập của các tầng lớp nhân dân có sự chênh lệch nhau, số đông dân cư có thu nhập còn thấp, nhưng cũng có một số cá nhân có thu nhập khá cao, nhất là những cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khu chế xuất hoặc có một số cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Mặc dù thuế thu nhập cá nhân chưa mang lại số thu lớn cho ngân sách Nhà nước, song xét trên phương diện công bằng xã hội và phương diện công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước thì thuế thu nhập cá nhân có vị trí cực kỳ quan trọng, do đó việc điều tiết thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao là cần thiết, đảm bảo thực hiện chính sách công bằng xã hội.


Quy định của pháp luật về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân

Điểm mới của luật thuế thu nhập cá nhân so với pháp lệnh thuế đối với người có thu nhập cao

       Thứ nhất, bổ sung và quy định rõ hơn về đối tượng nộp thuế: Luật thuế thu nhập cá nhân xác định đối tượng nộp thuế dựa trên tiêu chí là cá nhân “cư trú”. Đây là một điểm mới và cũng là ưu điểm so với pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Bởi vì trước đây pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao dựa trên 3 tiêu chí đó là quốc tịch (“ công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác lao động ở nước ngoài có thu nhập”), lãnh thổ (“ người nước ngoài làm việc tại Việt Nam kể cả người nước ngoài không làm việc ở Việt Nam nhưng có thu nhập phát sinh tại Việt Nam”) và cư trú (“ cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng định cư không thời hạn tại Việt Nam”) để xác định đối tượng nộp thuế. Chính điều này làm cho pháp luật về thuế thu nhập của nước ta có những sự khác biệt so với pháp luật các nước khác trên thế giới. Bên cạnh đó, việc xác định đối tượng là người cư trú trong luật thuế thu nhập cá nhân cũng có khác so với pháp lệnh. Luật thuế thu nhập cá nhân đã quy định mềm dẻo linh hoạt hơn khi quy định Cá nhân cư trú có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên tính trong  một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày có mặt tại Việt Nam.

       Nếu như pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao  điều chỉnh những cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công, chuyển giao công nghệ,…còn những cá nhân khác có thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản,…thì lại nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh. Mặc dù ở thời kì này, những hoạt động chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản,… chưa thật sự phổ biến nhưng nó vẫn diễn ra. Nhưng theo quy định của pháp luật thì thu nhập phát sinh từ những hoạt động này không phải nộp thuế. Điều này đã làm cho ngân sách nhà nước mất đi một nguồn thu đáng kể. Đồng thời nó là sự không công bằng giữa các chủ thể khi có thu nhập phát sinh từ các nguồn khác nhau nhưng có chủ thể phải nộp thuế, có chủ thể không phải nộp thuế.

       Thứ hai, đổi mới cách phân loại thu nhập chịu thuế để xác định nghĩa vụ thuế: Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập được phân chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên. Tuy nhiên, Pháp lệnh không định nghĩa rõ thế nào là thu nhập thường xuyên, thế nào là thu nhập không thường xuyên. Do vậy, trong thực tế, việc tính thuế gặp khá nhiều khó khăn. Đồng thời, việc tính thuế đối với từng loại thu nhập không hợp lý, không phù hợp với thông lệ quốc tế. Luật thuế thu nhập cá nhân đã khắc phục được hạn chế này với việc phân loại thu nhập chịu thuế theo nguồn phát sinh thu nhập. Theo đó, thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập khác (bao gồm: thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ thừa kế, quà tặng, thu nhập từ chuyển nhượng quyền thương mại). Đây là cơ sở để tính thuế phù hợp với từng loại thu nhập. Từ cách phân loại này, việc áp dụng thuế suất được quy định theo hai hướng: đối với thu nhập từ kinh doanh và tiền lương, tiền công thì áp dụng biểu thuế suất luỹ tiến từng phần; đối với các khoản thu nhập còn lại thì áp dụng biểu thuế luỹ tiến toàn phần.

       Liên quan đến thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng, kế thừa, quà tặng, có một quy định đáng chú ý là Luật thuế thu nhập cá nhân quy định miễn thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng, thừa kế, quà tặng giữa vợ với chồng; cha mẹ đẻ; cha mẹ nuôi; mẹ nuôi với con đẻ, con nuôi; cha chồng mẹ chồng với con dâu; cha vợ mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu nội, cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau.

       Thứ ba, áp dụng giảm trừ gia cảnh khi xác định nghĩa vụ thuế: Áp dụng giảm trừ gia cảnh, tức là có tính đến hoàn cảnh cá nhân của đối tượng nộp thuế. Đây là quy định hoàn toàn mới so với pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Điều này làm cho việc xác định nghĩa vụ thuế của mỗi đối tượng nộp thuế được công bằng hơn. Việc giảm trừ cho người phụ thuộc được thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế.

       Thứ tư, sử dụng thuật ngữ “thu nhập được miễn thuế” thay cho “thu nhập không chịu thuế” và bổ sung một số khoản thu nhập được miễn thuế, giảm thuế. Trên cơ sở kế thừa các khoản thu nhập không thuộc diện chịu thuế của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế thu nhập cá nhân đã thay đổi, gọi đúng bản chất là thu nhập được miễn thuế và bổ sung một số khoản thu nhập được miễn thuế khác. Luật thuế thu nhập cá nhân quy định khá rõ ràng về thu nhập được miễn thuế  (điều 4 luật thuế thu nhập cá nhân 2014) và thu nhập được giảm thuế (điều 5 luật thuế thu nhập cá nhân 2014). Trong khi pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao lại chỉ quy định chung chung đối với việc miễn thuế, giảm thuế vào điều 20 của pháp lệnh.

Thu nhập chịu thuế Thu nhập cá nhân

       Quy định như trong pháp lệnh thì việc miễn giảm đều phải chờ cơ quan có thẩm quyền “xem xét và quyết định”. Điều này thực sự là không công bằng. Bởi vì nó phụ thuộc vào ý chí của chủ thể có thẩm quyền xem xét quyết định. Quy định mới trong luật thuế thu nhập cá nhân đã làm cho việc thực hiện hoạt động miễn giảm thuế thực hiện dễ dàng hơn, vì luật quy định rất cụ thể trường hợp nào thì được miễn thuế và những trường hợp nào được xét giảm thuế. Như vậy, đối tượng được miễn thuế không còn phụ thuộc vào sự xem xét của cơ quan có thẩm quyền nữa mà chỉ cần đáp ứng được yêu cầu tại điều 4 luật thuế thu nhập cá nhân thì được miễn thuế theo đúng quy định của pháp luật. Còn đối tượng được xét giảm thuế là những người gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế. Luật quy định rõ là ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế. Chứ không quy định mơ hồ như pháp lệnh là “ảnh hưởng đến đời sống ”.

       Thứ năm, áp dụng giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo: Đây là điểm mới so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Pháp lệnh thuế đối với người thu nhập cao không quy định về trường hợp giảm trừ này, có nghĩa là trước khi có luật thuế thu nhập cá nhân, Pháp lệnh này tính cả phần thu nhập của cá nhân cư trú dung để từ thiện, nhân đạo là khoản thu nhập chịu thuế. Điểm mới này hoàn toàn phù hợp với thực tế vì một người nào đó đem tiền đi làm từ thiện rồi thì người đó không được hưởng khoản tiền đó nữa do vậy không có lý do gì mà tính thuế thu nhập cá nhân trên cơ sở số tiền đó. Với quy định này, Luật đã khuyến khích mọi công dân trong xã hội tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo và giúp cơ quan nhà nước bớt đi một việc là sử dụng tiền vào các hoạt động từ thiện. Đồng thời, đây cũng chính là một khoản “chi tiêu qua thuế” của Nhà nước, thể hiện ở chỗ một khoản thu lẽ ra được nộp về ngân sách Nhà nước bây giờ được chuyển sang cho đối tượng thụ hưởng khoản đóng góp từ thiện.

       Tuy nhiên, không phải khoản đóng góp vào tổ chức, cơ sở và các quỹ nào cũng được giảm trừ mà các tổ chức, cơ sở và các quỹ này phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, khuyến học, không nhằm mục đích lợi nhuận. Áp dụng giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo là quy định mới nhưng không hẳn đã là hoàn toàn hợp lý, nhà nước áp dụng giảm trừ trên theo góc độ khuyến khích mọi công dân trong xã hội tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo, nhưng nhìn theo góc độ của đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân, Nhà nước đã tạo điều kiện cho cá nhân cư trú lách luật, làm trái pháp luật thuế.

       Thứ sáu, quy định riêng về thu nhập tính thuế, biểu thuế giữa các cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú. Cách xác xây dựng biểu thuế của Pháp lệnh và Luật thuế thu nhập cá nhân khác nhau rất nhiều. Trong Pháp lệnh, biểu thuế được xây dụng căn cứ trên cơ sở là đối tượng nộp thuế. Biểu thuế trong Pháp lệnh được chia cho hai nhóm đó là: Nhóm thứ nhất dành cho: Công dân Việt Nam và Cá nhân khác định cư tại Việt Nam; Nhóm thứ hai dành cho: Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và Công dân Việt Nam lao động, làm việc tại nước ngoài. Còn trong Luật thuế thu nhập cá nhân, biểu thuế được xây dựng dựa trên cơ sở là thu nhập chịu thuế. Biểu thuế được chia thành hai loại đó là: Biểu thuế lũy tiến từng phần và Biểu thuế luỹ tiến toàn phần.

       Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập thường xuyên chịu thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần với bốn mức thuế suất, thấp nhất là 10% và cao nhất là 40%. Đối với thuế thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công, Luật thuế thu nhập cá nhân vẫn áp dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần nhưng mức thuế suất thấp nhất giảm xuống còn 5% và mức thuế suất cao nhất giảm xuống còn 35%.

       Do đó mà về cơ bản, biểu thuế được quy định trong Luật thuế thu nhập cá nhân có quy định hoàn toàn khác với các quy định về biểu thuế trong Pháp lệnh. Cụ thể đó là:

       Biểu thuế lũy tiến từng phần được chia làm 7 bậc và áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công. Bậc thấp nhất là bậc 1 với thu nhập dưới 5triệu/tháng, 60triệu/năm thì được tính với thuế suất 5%. Bậc cao nhất là bậc 7 với thu nhập trên 80triệu/tháng, 960triệu/năm được tính với thuế suất cao nhất đó là 35%.

       Với biểu thuế mới này, tuy việc tính toán có phức tạp hơn (do tăng số lượng bậc thuế) nhưng lại đảm bảo công bằng hơn trong điều tiết thu nhập do chênh lệch về thuế suất giữa các bậc thuế giảm đi. Việc hạ thuế suất cao nhất và thấp nhất xuống thể hiện tinh thần mở rộng diện đánh thuế nhưng mức độ điều tiết cũng giảm đi, huy động sự đóng góp của nhiều người nhưng với mức độ vừa phải, thực hiện “góp gió thành bão”. Mặc khác, việc giảm mức thuế suất cao nhất sẽ góp phần khuyến khích người lao động tích cực lao động và sản xuất, kinh doanh; khuyến khích người dân làm giàu chính đáng. Ngoài ra, Luật còn quy định thuế suất cụ thể cho từng loại thu nhập áp dụng đối với cá nhân không cư trú với các mức thuế suất từ 1% đến 10% tính trên toàn bộ thu nhập phát sinh ở Việt Nam (không được trừ chi phí).

       Còn đối với Pháp lệnh về thuế đối với người có thu nhập cao thì biểu thuế đều được chia làm 5 bậc:

       Biểu thuế dành cho: Công dân Việt Nam và Cá nhân khác định cư tại Việt Nam:  Bậc 1 mức thuế suất thấp nhất với 0%, được áp dụng với người có thu nhập dưới 5triệu/tháng. Bậc cao nhất là bậc 5 được áp dụng với người có thu nhập trên 40triệu/tháng với mức thuế suất là 40%. Đối với ca sỹ, nghệ sỹ xiếc, múa, cầu thủ bóng đá, vận động viên chuyên nghiệp được trừ 25% thu nhập khi xác định thu nhập chịu thuế.

       Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và Công dân Việt Nam lao động, làm việc tại nước ngoài: Bậc 1 với thuế suất 0% được áp dụng với người có thu nhập đến 8triệu/tháng. Bậc cao nhất là bậc 5 với mức thuế suất là 40% được áp dụng với người có thu nhập trên 80triệu/tháng.

       Đối với người nước ngoài được coi là không cư trú tại Việt Nam, áp dụng thuế suất 25% tổng số thu nhập. Thu nhập không thường xuyên chịu thuế theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Pháp lệnh này là số thu nhập của từng cá nhân trong từng lần trên 15.000.000 đồng. Thu nhập về chuyển giao công nghệ trên 15.000.000 đồng/lần được tính theo thuế suất 5% tổng số thu nhập; Thu nhập về trúng thưởng xổ số trên 15.000.000 đồng/lần được tính theo thuế suất 10% tổng số thu nhập.”

 Sự hoàn thiện về thu nhập chịu thuế

       Thuế thu nhập cá nhân là một trong những loại thuế trực thu có tác động lớn nhất, trực tiếp nhất đến đời sống kinh tế xã hội. Nó là loại thuế thể hiện sâu sắc, rõ nét mối quan hệ trách nhiệm hai chiều giữa nhà nước và công dân trong quá trình xây dựng và duy trì sự tồn tại của xã hội công cộng. Do đó, hơn bao giờ hết, đây được đánh giá là loại thuế quan trọng trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia, cần được chú trọng cả về mặt lập qui và thực thi. Theo dòng lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống thuế trên thế giới, chúng ta có thể thấy : thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng từ rất lâu trên thế giới.Ở Việt Nam, loại thuế này cũng xuất hiện khá sớm trong chế độ cũ của miền Nam nước ta ngay từ năm 1962 và được gọi xem xét là thuế thu nhập dân cư, với tên gọi là thuế lợi tức lương bổng, sau đó, nó được cải cách vào năm 1972. Song, khi chúng ta thống nhất nước nhà hai miền Nam Bắc và thực hiện chính sách kinh tế bao cấp, áp dụng hình thức bình quân thu nhập, nên loại thuế thu nhập không được đặt ra. Nhưng khi chúng ta thay đổi cơ chế kinh tế sang hạch toán, định hướng thị trường thì vấn đề điểu tiết thu nhập cá nhân lại được đặt ra, dù chỉ mới áp dụng đối với những người có thu nhập cao.

       Chính vì vậy, đến ngày 27/12/1990, Hội đồng nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Pháp lệnh này được sửa đổi nhiều lần qua những năm 1993, 1994, 1997, 1999 và được thay thế bằng Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 2001, sửa đổi bổ sung năm 2004.

       Đến ngày 1/1/2009, Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 có hiệu lực thay thế cho pháp lệnh trên trong vấn đề điều tiết thu nhập cá nhân. Đây là lần đầu tiên chính thức có văn bản luật qui định về thuế thu nhập cá nhân, chứng tỏ tầm quan trọng, cần thiết của loại thuế này trong chính sách thuế của Việt Nam. Việc chúng ta cho ra đời Luật thuế thu nhập cá nhân 2007, có hiệu lực từ ngày 1/1/2009 trong giai đoạn này là xuất phát từ sự đòi hỏi của thực tiễn. Sự đòi hỏi này bắt nguồn từ chính sự thay đổi trong bối cảnh, bản chất của đời sống kinh tế – xã hội Việt Nam khi chúng ta ngày càng hội nhập sâu với khu vực, quốc tế. Hiện thực này đã làm cho nội dung các qui định của pháp lệnh thuế thu nhập đối với người thu nhập cao hiện hành không còn phù hợp với thực tiễn và nhu cầu cần điều tiết thu nhập cá nhân từ phía Nhà nước, xã hội. Do đó, có thể xem, sự ra đời của văn bản luật này là sự tất yếu của quá trình phát triển chính sách thuế thu nhập cá nhân của Nhà nước.

       Việc xác định đối tượng chịu thuế : Chúng ta thấy, việc xác định đối tượng chịu thuế theo qui định của Luật thuế thu nhập cá nhân so với cách xác định của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đảm bảo tính hợp lí hơn rất nhiều và về cơ bản là xác định đúng, đầy đủ đối tượng cần điểu tiết thu nhập. Sở dĩ là bởi lí do sau :

       Nguyên tắc đánh thuế : Như chúng ta đã biết, tại Điều 1 của Pháp lệnh và nghị định số 147/2004/NĐ – CP ngày 23/7/2004 qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao có xác định đối tượng chịu thuế thu nhập là : “ – Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động nước ngoài có thu nhập; – Cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng định cư không thời hạn tại Việt Nam có thu nhập; – Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam kể cả người nước ngoài không sinh sống ở Việt Nam nhưng có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.”

       Theo tinh thần của điều luật trên, có thể thấy, nguyên tắc đánh thuế đối với người có thu nhập cao của Việt Nam dựa trên tiêu chí quốc tịch phân biệt người Việt Nam và người nước ngoài, đồng thời, cũng kết hợp với tiêu chí cư trú của đối tượng nộp thuế để phân biệ giữa những người không mang quốc tịch Việt Nam với nhau. Theo đó, người nước ngoài (bao hàm cả người không quốc tịch) được chia làm ba loại để áp dụng những cách tính thuế khác nhau như sau : Người nước ngoài định cư không thời hạn ở Việt Nam thì chịu sự điều tiết thu nhập như người Việt Nam ở trong nước; Người nước ngoài cư trú có thời hạn ở Việt Nam hưởng thuế suất theo qui định như người Việt Nam lao động, công tác ở nước ngoài và chịu sự điều tiết phần thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam; Người nước ngoài không cư trú ở Việt Nam chịu sự điều tiết đối với toàn bộ những thu nhập phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam.

       Cách xác định như trên thể hiên sự phức tạp trong cách tư duy của người làm luật, đồng thời tạo tâm lý, ấn tượng không tốt cho người nước ngoài khi vào Việt Nam. Vì rõ ràng ở đây có sự phân biệt giữa người công dân Việt Nam và người nước ngoài, sự phân biệt không cần thiết giữa người nước ngoài cư trú không thời hạn và người nước ngoài cư trú có thời hạn. Chính vì vậy, ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của nhà nước. Chính vì hạn chế trên mà đến Luật thuế thu nhập cá nhân 2007, nguyên tắc đánh thuế thu nhập đã được thay đổi.

       Trong việc xác định đối tượng chịu thuế, Nhà nước chỉ dựa trên tiêu chí là yếu tố cư trú của đối tượng nộp thuế. Cụ thể : “Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam; và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.” Điều này có nghĩa là dù là người Việt Nam hay nước ngoài nếu thỏa mãn điều kiện xác định là cư trú trên lãnh thổ Việt Nam thì đều chịu chính sách thuế như nhau. Việc qui định như vậy tạo sự bình đẳng giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, đồng thời cũng tránh được sự phức tạp trong việc xác định đối tượng chịu thuế. Hơn nữa, nó còn thể hiện thiện chí của nước ta trong việc nỗ lực thực hiện chế độ đãi ngộ quốc gia, tạo môi trường rộng mở và tâm lí yên tâm cho nhà đầu tư, người nước ngoài khi vào làm việc và sinh sống tại Việt Nam.

       Căn cứ xác định yếu tố cư trú : Như chúng ta đã biết, cách xác định đối tượng cư trú ở các nước cũng khác nhau: Một số nước quy định cá nhân cư trú là người sống thường xuyên ở quốc gia đó từ 183 ngày trở lên trong một năm. Một số nước khác lại quy định cụ thể hơn. Chẳng hạn ở Pháp một người được coi là cư trú tại Pháp nếu coi Pháp là nơi hành nghề chính hay có trung tâm quyền lợi đặt tại Pháp hoặc thường xuyên có mặt tại Pháp trên 6 tháng trên một năm hoặc Pháp là nơi mang lại phần lớn thu nhập. Ở Nhật còn quy định cụ thể 3 trường hợp: cư trú thường xuyên(là người định cư thường xuyên ở Nhật bị đánh thuế đối với mọi nguồn thu nhập nhưng phải thường trú ở Nhật từ 5 năm trở lên); cư trú không thường xuyên(là người không có ý định cư trú thường xuyên tại Nhật nhưng có thường trú ở Nhật từ 1-5 năm thuế sẽ đánh vào nguồn thu nhập phát sinh tại Nhật); đối tưọng không cư trú(là người không có định cư hoặc sống ở Nhật dưới một năm và phải có hợp đồng lao động hoặc giấy tờ tuỳ thân khác chứng minh) thì không phải nộp thuế thu nhập.

       Ở Việt Nam, việc xác định yếu tố cư trú trong Luật thuế thu nhập cá nhân về cơ bản là đảm bảo bao quát hết những đối tượng có ý định cư trú ở Việt Nam. Nó dựa trên hai căn cứ để xác định. Đó là nơi ở và thời gian có mặt ở Việt Nam, chỉ cần thỏa mãn một trong hai điều kiện. Luật thuế thu nhập cá nhân 2014 có xác định : Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.” Việc qui định này khắc phục được thực tế là có rất nhiều người nước ngoài đến công tác tại Việt Nam, rõ ràng là có ý định cư trú nhưng vẫn không thuộc diện chịu thuế. Bởi lẽ, có thể là do nhu cầu công tác nên họ không thường xuyên có mặt tại Việt Nam, không thỏa mãn điều kiện cư trú là “ở tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính cho 12 tháng kể từ khi đến Việt Nam” theo qui định tại điểm b khoản 1 điều 6 của nghị định số 147/2004/NĐ – CP ngày 23/7/2004 qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Nhưng chắc chắn rằng khi họ đến cư trú làm việc ở Việt Nam thì đều phải thuê nhà và đăng kí thường trú. Chúng ta hoàn toàn có cơ sở đế xác định điều kiện cư trú dựa trên các yếu tố này.

       Do đó, có thể nói, việc đặt ra tiêu chí xác định yếu tố cư trú như trên đảm bảo xác định tối đa đối tượng cư trú cần điều tiết thu nhập để tạo công bằng xã hội, đồng thời, cũng tạo điều kiện dễ dàng cho cơ quan quản lí thuế trong việc xác định đối tượng cần nộp thuế, diện chịu thuế.

Đánh giá sự hoàn thiện về thu nhập chịu thuế

       Một là, bao quát và mở rộng được đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế.Ngoài việc kế thừa có chọn lọc các chính sách điều tiết thu nhập trước đây (thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân kinh doanh, thuế chuyển quyền sử dụng đất), Luật thuế Thu nhập cá nhân đã bổ sung điều tiết đối với các khoản thu nhập mới phát sinh, như: thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán; thu nhập từ thừa kế, quà tặng là chứng khoán, phần vốn góp trong các tổ chức kinh tế, bất động sản và các tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng.

       Hai là, động viên hợp lý thu nhập của dân cư, góp phần đảm bảo công bằng xã hội; thống nhất các quy định về thuế áp dụng đối với cá nhân có thu nhập, không phân biệt cá nhân người nước ngoài với người Việt Nam. Luật Thuế Thu nhập cá nhân có quy định giảm trừ gia cảnh trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú và được áp dụng thống nhất không phân biệt người Việt Nam hay người nước ngoài. Quy định này đã thể hiện nguyên tắc công bằng và khả năng nộp thuế của người có thu nhập.

       Ba là, góp phần đảm bảo nguồn thu Ngân sách nhà nước và góp phần thực hiện kiểm soát thu nhập của dân cư. Thông qua cá nhân, cơ quan chi trả được cấp mã số thuế, ngành thuế nắm được số người nộp thuế, số người chưa phải nộp thuế đối với thu nhập từ tiền lương tiền công và từ thu nhập khác, số thuế thu được từ các loại thu nhập của cá nhân theo phương thức khấu trừ tại nguồn và theo phương thức kê khai, nộp thuế.

      Pháp luật thuế thu nhập cá nhân đã được hoàn thiện thường xuyên nhằm đảm bảo tính toàn diện, thống nhất và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc dân, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong quản lý thuế thu nhập cá nhân, đáp ứng được yêu cầu về cải cách hành chính của Chính phủ, được người dân đánh giá cao.

       Chính sách thuế thu nhập cá nhân tương đối ổn định, văn bản pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân được ban hành và được hướng dẫn thi hành ngày càng đầy đủ, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý thuế ngày càng hiệu quả.

       Luật thuế thu nhập cá nhân là một văn bản luật được soạn thảo công phu, phản ánh khá đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân với nhiều điểm mới so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và phù hợp hơn với điều kiện kinh tế – xã hội nước ta hiện nay. Nó ra đời xuất phát từ sự đòi hỏi cần thiết của thực tế, góp phần tạo điều kiện cho chúng ta triển khai tốt việc thực hiện chủ trương công khai, minh bạch thu nhập và tài sản của cá nhân vì việc thực hiện Luật thuế này buộc cá nhân có thu nhập chịu thuế phải kê khai thu nhập tiến tới quản lý, kiểm soát thu nhập dân cư.


     Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Phân tích quy định về thu nhập chịu thuế Thu nhập cá nhân từ Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đến Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện nay để thấy sự hoàn thiện trong Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành đã bao quát được các thu nhập của cá nhân. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

      Trân trọng./.


 

Đánh giá post

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *