QUY ĐỊNH BẢO HỘ HÀNG HÓA TRONG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

       Bài viết dưới đây của Luật Quang Huy chúng tôi sẽ phân tích tình huống cụ thể để thấy rõ được quy định của pháp luật về bảo hộ hàng hóa trong quyền sở hữu trí tuệ:

       Anh A là nhân viên của Viện Khoa học Giao thông vận tải, là chủ nhiệm thực hiện đề tài nghiên cứu của Bộ Giao thông vận tải “Ứng dụng công nghệ GPS vào quản lí giao thông đô thị”. Đề tài đã được Bộ Giao thông vận tải nghiệm thu ngày 12 tháng 06 năm 2011 và được giới thiệu tại nhiều Hội thảo khoa học. Từ đầu năm 2012, nhiều hãng TAXI tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã ứng dụng thử nghiệm lắp đặt máy định vị GPS trong hoạt động của mình và thu được hiệu quả kinh tế.

         Anh A cho rằng các hãng TAXI này đã áp dụng kết quả nghiên cứu của anh vào hoạt động kinh doanh nên cần phải xin phép và trả tiền cho anh. Ngày 05 tháng 02 năm 2012 , công ty B của Hàn Quốc nộp đơn đăng kí sáng chế cho sản phẩm máy định vị GPS.

       Trên cơ sở phân tích vụ việc, các bạn hãy trình bày ý kiến:

  • Đề tài nghiên cứu “Ứng dụng công nghệ GPS vào quản lí giao thông đô thị” trong vụ việc trên có thể được bảo hộ là đối tượng nào trong quyền sở hữu trí tuệ? Tại sao?
  • Anh A hay Bộ giao thông vận tải có quyền yêu cầu các hãng TAXI xin phép và trả tiền khi muốn sử dụng sáng kiến ứng dụng công nghệ GPS vào quản lí TAXI không? Tại sao?
  • Công ty B có khả năng đăng ký sáng chế trong sản phẩm máy GPS không? Tại sao?

      Qua bài phân tích sau đây tổng đài tư vấn Luật Quang Huy chúng tôi xin giải quyết về vấn đề nêu trên:


Danh mục tài liệu tham khảo 

  • Luật Sở hữu trí tuệ 2005( sửa đổi bổ xung năm 2009)
  • Luật Khoa học và Công nghệ 2013
  • Nghị định 100/2006/ NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự,Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan.
  • Nghị định 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp.

Phân tích vụ việc về bảo hộ hàng hóa trong quyền sở hữu trí tuệ được nêu ra

       Thứ nhất anh A là nhân viên của Viện Khoa học Giao thông  vận tải, Là chủ nhiệm thực hiện đề tài nghiên cứu của Bộ Giao thông vận tải. Anh A được trả lương theo hợp đồng lao động đã kí với Viện Khoa học Giao thông vận tải. Đề tài nghiên cứu “Ứng dụng công nghệ GPS vào quản lí giao thông đô thị được giao cho anh A làm chủ nhiệm.mọi chi phí cho nghiên cứu đều do Bộ giao thông vận tải chi trả. Bộ Giao thông vận tải đồng thời cũng cung cấp cơ sở vật chất-kĩ thuật phục vụ việc nghiên cứu của A. Do hai bên không có thỏa thuận gì thêm.

       Theo Điều 3 Luật Khoa học và công nghệ 2013:

       “Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ”.

       “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy”.

       “Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn”.

       “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.

         Ta có nghiên cứu “ Ứng dụng công nghệ GPS vào quản lý giao thông đô thị” là hoạt động khoa học và công nghệ bởi nó là hệ thống các tri thức về  phương pháp, quy trình, kĩ năng , bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để quản lý giao thông đô thị – công nghệ GPS. Anh A bằng lao động sáng tạo, lao động trí tuệ của mình đã tìm hiểu bản chất, quy luật của giao thông đô thị và công nghệ GPS để có thể đưa ra sáng kiến ứng dụng được cộng nghệ GPS vào quản lý giao thông đô thị mà không phải sao chép từ tác phẩm của người khác, do đó nghiên cứu khoa học của anh mang tính sáng tạo.

       Có thể thấy rằng, các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, về bản chất là các thông tin mới hay các ý tưởng mới, đa phần đều tồn tại dưới các hình thức: hoặc là một giải pháp kỹ thuật (cơ cấu, chất liệu, phương pháp …), hoặc là một tác phẩm khoa học công nghệ (đề cương, đề án, bảng số liệu, họa đồ, phúc trình, báo cáo, bài giảng, tham luận, phần mềm …) hoặc là một bí quyết kỹ thuật hay một bí mật thương mại…

        Kết quả nghiên cứu đề tài nghiên cứu trên đã được nghiệm thu vào ngày 12 tháng 6 năm 2011 và được giới thiệu tại một số hội thảo khoa học tức đề tài này đã được trình bày thành một đề cương, đề án. Theo các hình thức của kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ đã trình bày ở trên thì ta có đề tài này là một tác phẩm khoa học – một trong những đối tượng được bảo hộ sở hữu trí tuệ về quyền tác giả theo quy định tại  Khoản 1 Điều 14 Luật SHTT, Cụ thể:

       “1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

       a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

      b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

      c) Tác phẩm báo chí;

      d) Tác phẩm âm nhạc;

       đ) Tác phẩm sân khấu;

       e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);

      g) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;

      h) Tác phẩm nhiếp ảnh;

      i) Tác phẩm kiến trúc;

      k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học;

      l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

      m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.”

        Căn cứ Khoản 1 Điều 8 Nghị định 106/2006/NĐ-CP quy định:

       “1. Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học bao gồm:

       a) Cá nhân Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả;

      b) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam;

      c) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam;

      d) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên.”

       Căn cứ Khoản 1 và Điểm b Khoản 2 điều 41 Luật Khoa học và Công nghệ quy định:

       Khoản 1: “Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật cho việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác trong hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”

       Điểm b Khoản 2: “Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước khác ở trung ương, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp bộ, cấp tỉnh hoặc cấp cơ sở do mình phê duyệt.”

       Theo đó, Anh A là tác giả của công trình nghiên cứu khoa học. Bộ Giao thông vận tải là chủ sở hữu quyền tác giả đối với công trình nghiên cứu khoa học đó, người đại diện chủ sở hữu đối vết quả công trình nghiên cứu trên là Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Quyền sở hữu với quyền tác giả thuộc về Bộ Giao thông vận tải theo Khoản 1 Điều 39 Luật SHTT:

        “Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”

      Công trình nghiên cứu khoa học hoàn thành vào ngày 12 tháng 06 năm 2011. Việc đưa kết quả của nghiên cứu vào thực tiễn là một giải pháp kĩ  thuật bao gồm cách thức dùng phương tiện kĩ thuật (máy định vị GPS) để giải quyết vấn đề quản lí giao thông đô thị. Mặt khác sáng chế là một giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Nên có thể coi kết quả của công trình nghiên cứu khoa học trên là sáng chế, Và chủ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế trên là Bộ Giao thông vận tải.

       Căn cứ điều 58, 59, 60, 61, 62 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định

      Điều 58: “Điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ

       Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

      a) Có tính mới;

      b) Có trình độ sáng tạo;

      c) Có khả năng áp dụng công nghiệp.

      Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây:

      a) Có tính mới;

      b) Có khả năng áp dụng công nghiệp.”

       Điều 59: “ Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế

       Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế:

       Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;

      Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính;

      Cách thức thể hiện thông tin;

      Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;

      Giống thực vật, giống động vật;

      Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh;

      Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật.”

       Điều 60: “Tính mới của sáng chế

       Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.

      Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.

      Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:

      a) Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này;

      b) Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này công bố dưới dạng báo cáo khoa học;

      c) Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức.”

       Điều 61: “Trình độ sáng tạo của sáng chế

       Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.”

       Điều 62. “ Khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế

       Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định.”

       Với dữ kiện được đề bài được đưa ra, ta hoàn toàn có thể nhận định sáng chế trên không rơi vào các trường hợp không được bảo hộ theo điều 59 và với giả thiết trước đó chưa từng có chủ thể nào khác nghiên cứu về đề tài tương tự, tính mới của sáng chế xem như đã được đảm bảo, xét về điều kiện trình độ sáng tạo của sáng chế theo quy định tại điều 61, việc ứng dụng công nghệ GPS vào quản lí giao thông không thể coi là bước tiến sáng tạo vì đó chỉ là sự kết hợp đơn giản của giải pháp kĩ thuật đã biết (công nghệ GPS) với chức năng, mục đích, hiệu quả của đề tài nghiên cứu cũng là sự kết hợp đơn giản chức năng, mục đích và hiệu quả của công nghệ GPS. Nó hoàn toàn có thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.

        Về khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế, kết quả nghiên cứu có khả năng áp dụng công nghiệp vì quy trình là nội dung của kết quả nghiên cứu có thể áp dụng lặp đi lặp lại và thu được kết quả ổn định ( thỏa mãn điều kiện thuộc điều 62 luật SHTT). Trên thực tế các hãng taxi cũng đã thu được hiệu quả kinh tế do áp dụng thử nghiệm lắp máy định vị GPS vào trong quản lí.

        Xét các điều kiện trên ta thấy, sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích vì thỏa mãn các điều kiện theo quy định của khoản 2 Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ.

Bảo hộ hàng hóa trong quyền sở hữu trí tuệ
Bảo hộ hàng hóa trong quyền sở hữu trí tuệ

Đề tài nghiên cứu “Ứng dụng công nghệ GPS vào quản lí giao thông đô thị” trong vụ việc trên có thể được bảo hộ là đối tượng nào trong quyền sở hữu trí tuệ? Tại sao?

       Với những phân tích ở trên,ta có thể thấy Đề tài nghiên cứu “ Ứng dụng công nghệ GPS vào quản lí giao thông đô thị có thể được bảo hộ là đối tượng quyền tác giả hoặc đối tượng quyền sở hữu công nghiệp trong quyền sở hữu trí tuệ (theo (1) và (2))

Anh A hay Bộ giao thông vận tải có quyền yêu cầu các hãng TAXI xin phép và trả tiền khi muốn sử dụng sáng kiến ứng dụng công nghệ GPS vào quản lí TAXI không? Tại sao?

      Trường hợp thứ nhất: Nếu Bộ giao thông vận tải chưa được cấp văn bằng bảo hộ cho sáng chế của mình và đang trong thời gian chờ đăng kí.

       Khi đó Bộ giao thông vận tải có quyền tạm thời đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí theo quy định tại khoản 1 Điều 131 như sau:

       “Trường hợp người nộp đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp biết rằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đang được người khác sử dụng nhằm mục đích thương mại và người đó không có quyền sử dụng trước thì người nộp đơn có quyền thông báo bằng văn bản cho người sử dụng về việc mình đã nộp đơn đăng ký, trong đó chỉ rõ ngày nộp đơn và ngày công bố đơn trên Công báo sở hữu công nghiệp để người đó chấm dứt việc sử dụng hoặc tiếp tục sử dụng.”  và chỉ đến khi nhận văn bằng bảo hộ thì Bộ Giao thông vận tải mới có những quyền liên quan đến sở hữu công nghiệp theo quy định của luật này

        Trong thời gian đó, nếu Bộ Giao thông vận tải lựa chọn  bản ứng dụng công nghệ GPS được bảo hộ đối tượng quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ thì đề tài nghiên cứu “Ứng dụng công nghệ GPS vào quản lý giao thông đo thị” đã được Bộ giao thông vận tải nghiệm thu ngày 12 tháng 6 năm 2011 và được giới thiệu tại nhiều Hội thảo khoa học, sự việc này không đồng nghĩa với việc công bố tác phẩm. Vì theo khoản 2, Điều 22, Nghị định của Chính phủ số 100/2006/NĐ-CP quy định : “Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng tuỳ theo bản chất của tác phẩm, do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

       Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc.”

       Căn cứ điều 19, Luật SHTT quy định:

“Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

Đặt tên cho tác phẩm;

Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.”

       Căn cứ điều 20 Luật SHTT quy định:

“1. Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:

a) Làm tác phẩm phái sinh;

b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;

c) Sao chép tác phẩm;

d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;

đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;

e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của Luật này.

Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.”

       Theo đó, việc nhiều hãng TAXI tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã ứng dụng thử nghiệm lắp đặt máy định vị GPS trong hoạt động của mình không rơi vào các trường hợp sử dụng tác phẩm cần sự xin phép và trả tiền thù lao, nhuận bút và lợi ích vật chất khác cho tác giả( trường hợp này là anh A). Còn việc các công ty đó sử dụng nội dung của công trình nghiên cứu là ứng dụng công nghệ định vị GPS vào trong hoạt động của mình cũng không được coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Vì quyền tác giả chỉ được bảo hộ về mặt hình thức thể hiện tác phẩm chứ không được bảo hộ về mặt nội dung. Trong trường hợp trên, các hãng TAXI có thể sử dụng cùng một quy trình ứng dụng máy định vị GPS vào hoạt động của mình nhưng thiết bị định vị có thể của nhiều hãng khác nhau. Cho nên không thể nói nó xâm phạm về mặt hình thức đối với ứng dụng công nghệ của Bộ Giao thông vận tải.

       Trong trường hợp này anh A hay Bộ giao thông vận tải không có quyền cầu các hãng TAXI yêu cầu các hãng TAXI xin phép và trả tiền khi sử dụng sáng kiến của mình.

        Trường hợp thứ hai: Nếu như công trình nghiên cứu của Bộ Giao thông vận tải đã được cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với giải pháp hữu ích- ứng dụng công nghệ GPS vào quản lí giao thông đô thị.

       Đối với trường hợp này,

       Căn cứ khoản Bộ giao thông vận tải trở thành chủ sở hữu đối với sáng chế.

       Căn cứ vào khoản 1 Điều 125 Luật SHTT quy định:

       “Quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp

      Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý có quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp nếu việc sử dụng đó không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

      Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý không có quyền cấm người khác thực hiện hành vi thuộc các trường hợp sau đây:

      a) Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc mục đích phi thương mại hoặc nhằm mục đích đánh giá, phân tích, nghiên cứu, giảng dạy, thử nghiệm, sản xuất thử hoặc thu thập thông tin để thực hiện thủ tục xin phép sản xuất, nhập khẩu, lưu hành sản phẩm;

      b) Lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ sản phẩm không phải do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị trường nước ngoài;

      c) Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí chỉ nhằm mục đích duy trì hoạt động của các phương tiện vận tải của nước ngoài đang quá cảnh hoặc tạm thời nằm trong lãnh thổ Việt Nam;

      d) Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp do người có quyền sử dụng trước thực hiện theo quy định tại Điều 134 của Luật này;

       đ) Sử dụng sáng chế do người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thực hiện theo quy định tại Điều 145 và Điều 146 của Luật này;

       e) Sử dụng thiết kế bố trí khi không biết hoặc không có nghĩa vụ phải biết thiết kế bố trí đó được bảo hộ;

      g) Sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu nhãn hiệu đó đã đạt được sự bảo hộ một cách trung thực trước ngày nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý đó;

      h) Sử dụng một cách trung thực tên người, dấu hiệu mô tả chủng loại, số lượng, chất lượng, công dụng, giá trị, nguồn gốc địa lý và các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ.

      Chủ sở hữu bí mật kinh doanh không có quyền cấm người khác thực hiện các hành vi sau đây:

      a) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh thu được khi không biết và không có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được một cách bất hợp pháp;

      b) Bộc lộ dữ liệu bí mật nhằm bảo vệ công chúng theo quy định tại khoản 1 Điều 128 của Luật này;

      c) Sử dụng dữ liệu bí mật quy định tại Điều 128 của Luật này không nhằm mục đích thương mại;

      d) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra một cách độc lập;

       đ) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra do phân tích, đánh giá sản phẩm được phân phối hợp pháp với điều kiện người phân tích, đánh giá không có thoả thuận khác với chủ sở hữu bí mật kinh doanh hoặc người bán hàng.”

       Trong trường hợp này, các hãng TAXI đã ứng dụng thử nghiệm lắp máy định vị GPS trong hoạt động của mình và thu được hiểu quả kinh tế, nghĩa là đã sử dụng đối tượng sở hữu công ngiệp của Bộ Giao thông vận tải và có mục đích thương mại (không thuộc khoản 2 và khoản 3 điều 125). Như vậy các hãng TAXI đã xâm phạm quyền đối với sáng chế mà không được phép của chủ sở hữu ( khoản 1 điều 126 luật SHTT). Vì vậy Bộ Giao thông vận tải có quyền yêu cầu các hãng TAXI xin phép và trả tiền khi muốn sử dụng sáng kiến ứng dụng công nghệ GPS vào quản lí TAXI.

       Trong trường hợp này, anh A hay Bộ Giao thông vận tải có quyền yêu cầu các hãng TAXI xin phép và trả tiền khi muốn sử dụng sáng kiến ứng dụng công nghệ GPS vào quản lí TAXI.

Công ty B có khả năng đăng ký sáng chế trong sản phẩm máy GPS không? Tại sao?

       Công ty B trong trường hợp trên không thể được đăng kí sáng chế cho sản phẩm máy GPS bởi lí do sau.

      Nếu giả thiết đây đều là những sáng chế đầu tiên. Thì căn cứ vào Điều 58 và Điều 60 Luật SHTT, sáng chế máy GPS của công ty B đã không thỏa mãn điều kiện “sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.” , theo đó sáng chế của công ty B không có tính mới, biểu hiện cụ thể :

        Công nghệ GPS đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng (anh A sử dụng công nghệ GPS để nghiên cứu khoa học, sau đó còn các hãng taxi cũng áp dụng và thu được hiệu quả kinh tế).

       Từ vụ việc trên, xét rộng hơn trong quan hệ pháp luật sở hữu trí tuệ, ta thấy lợi ích của chủ thể này đến từ việc thực hiện nghĩa vụ của chủ thể khác. Mỗi chủ thể có thể là đối tượng được bảo hộ trong sở hữu trí tuệ. Vậy dẫn đến yêu cầu phải cân bằng lợi ích giữa các chủ thể với nhau.


      Trên đây là toàn bộ vấn đề giải đáp thắc mắc của mình về vấn đề: Bảo hộ hàng hóa trong quyền sở hữu trí tuệ. Trong quá trình giải quyết nếu có vấn đề gì thắc mắc hoặc chưa rõ bạn có thể liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của Luật Quang Huy qua HOTLINE 19006588 để được hỗ trợ chi tiết.

      Trân trọng./.


 

Bài viết liên quan bạn nên xem
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
G