THỜI HIỆU YÊU CẦU THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

  • Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án trong thời hạn 5 năm.
  • Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

      Luật Thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung 2014 là một cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức thi hành án dân sự. Việc triển khai và thực hiện Luật đã góp phần làm cho công tác thi hành án dân sự có những chuyển biến tích cực, bảo đảm cho bản án, quyết định thi hành đạt hiệu quả cao. Vậy khi nào thì người được thi hành án không còn quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thi hành án? Sau đây, dựa theo quy định của pháp luật hiện hành, Luật Quang Huy xin giải đáp vấn đề thời hiệu yêu cầu thi hành án như sau:


Cơ sở pháp lý:


Thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự là gì?

      Theo quy định của pháp luật thì thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời hạn mà người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án; hết thời hạn đó thì mất quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án.

"<yoastmark
Thời hiệu thi hành án dân sự

Quy định về thời hiệu thi hành án dân sự

      Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án trong thời hạn 5 năm.

      Trong trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn sẽ được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn. Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

      Trường hợp người yêu cầu thi hành án vì sự kiện bất khả kháng hoặc yếu tố khách quan không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn mà chứng minh được thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

      Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.

      Sự kiện bất khả kháng là trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa.  Trở ngại khách quan là trường hợp đương sự không nhận được bản án, quyết định mà không phải do lỗi của họ; đương sự đi công tác ở vùng biên giới, hải đảo mà không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn; tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức hoặc đương sự chết mà chưa xác định được người thừa kế; tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, cổ phần hóa mà chưa xác định được tổ chức, cá nhân mới có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật hoặc do lỗi của cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án hoặc cơ quan, cá nhân khác dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn.


Chủ thể có quyền yêu cầu thi hành án dân sự

       Theo quy định của pháp luật, người được thi hành án và người phải thi hành án sẽ có quyền yêu cầu thi hành án dân sự.

      Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành. Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành.


Chủ thể có thẩm quyền giải quyết và tiếp nhận đơn yêu cầu

        Theo khoản 5 Điều 31 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung 2014 quy định những trường hợp cơ quan thi hành án dân sự có quyền từ chối thi hành án trong đó có trường hợp

Cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án.

Thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự
Thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự

       Như vậy, chủ thể có thẩm quyền giải quyết và tiếp nhận đơn yêu cầu sẽ là chủ thể có thẩm quyền thi hành án được quy định tại điều 35 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2014:

1. Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

a) Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

b) Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;

c) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

d) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác.

2. Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

a) Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cùng địa bàn;

b) Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao;

c) Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;

d) Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

đ) Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại;

e) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh;

g) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác;

h) Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện quy định tại khoản 1 Điều này mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành;

i) Bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp về thi hành án.

3. Cơ quan thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

a) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn;

b) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự khu vực trên địa bàn;

c) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;

d) Quyết định dân sự của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;

đ) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, cơ quan thi hành án cấp quân khu khác ủy thác.

      Do đó, khi yêu cầu thi hành án dân sự, người có quyền yêu cầu ngoài chú ý đến thời hiệu yêu cầu còn phải chú ý đến cơ quan có thẩm quyền thi hành án để nộp đơn yêu cầu cho đúng, tránh bị trả lại đơn gây mất thời gian, tiền bạc…


Ý nghĩa của thời hiệu thi hành án dân sự

      Thời hiệu đóng một vai trò quan trọng trong thi hành án dân sự. Nếu không quy định thời hiệu, mỗi chủ thể tham gia vào quan hệ này luôn bị đe dọa bởi tranh chấp có thể xảy ra, làm ảnh hưởng đến quyền lợi và đời sống của họ. Khi hết thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự, những người có quyền yêu cầu sẽ mất quyền yêu cầu thi hành án đồng nghĩa với đó là việc người còn lại sẽ không còn phải gánh chịu hậu quả pháp lý.


      Trên đây là toàn bộ hướng dẫn của Luật Quang Huy về vấn đề thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào thì bạn có thể thể kết nối tới Tổng đài tư vấn luật dân sự qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được tư vấn trực tiếp.

       Trân trọng./.


Bài viết liên quan bạn nên xem
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
G