THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI TRONG BLDS 2015

          Hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa hai hay nhiều chủ thể gắn với việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Một nguyên tắc cơ bản sau khi đã giao kết hợp đồng là các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ theo như đã cam kết. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, khi các bên đã giao kết hợp đồng nhưng do hoàn cảnh thay đổi không thể lường trước được, khiến cho mục đích hợp đồng bị đảo lộn, dẫn tới có sự xung đột về lợi ích giữa các bên, đặc biệt là bên thiện chí nhưng bị thiệt hại. Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực từ 1/1/2017) đã có một quy định hoàn toàn mới cho phép điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Với mong muốn tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời áp dụng giải quyết một tình huống cụ thể, tiểu luận lựa chọn đề tài: “Phân tích quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trong BLDS 2015. Xây dựng một tình huống tranh chấp có liên quan và đưa ra cách giải quyết theo quan điểm cá nhân”.


Danh mục tài liệu tham khảo:

  • TS Nguyễn Văn Cừ – PGS.TS Trần Thị Huệ; Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nxb. Công an nhân dân; Hà Nội, 2017.
  • Bộ luật Dân sự 2015; Nxb. Chính trị quốc gia; Hà Nội, 2015.
  • Trường đại học Luật Hà Nội; Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập II; Công an nhân dân
  • Đỗ Văn Đại; Bàn thêm về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi; Tạp chí Nghiên cứu lập pháp; số 13, tháng 7/2015.
  • Lê Minh Hùng, Điều khoản điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi trong pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam; Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử;
  • Hà Thị Mai Hiên, Sửa đổi BLDS Việt Nam và vấn đề hoàn thiện chế định hợp đồng, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/2005.
  • Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) 2004.
  • Vũ Thị Lan Anh; Vấn đề pháp lý đặt ra trong việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi; Tạp chí Nhà nước và pháp luật; số 5/2016
  • Thanh Tùng (2015), Hoàn cảnh thay đổi, được điều chỉnh hợp đồng, Báo pháp luật Tp. Hồ Chí Minh,

Đặt vấn đề

          Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một trong mười vấn đề trọng tâm mà Ban soạn thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) đưa ra lấy ý kiến nhân dân. Có thể thấy đây là vấn đề mới so với pháp luật hiện hành và tương đối phức tạp.

          Như đã biết, hợp đồng được thiết lập hợp pháp thì có hiệu lực pháp luật đối với các bên từ thời điểm giao kết mà các bên không được tự ý sửa đổi, hoặc hủy bỏ. Hợp đồng chỉ có thể được thay đổi hoặc chấm dứt trên cơ sở các điều khoản của hợp đồng hay bằng sự thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Đây chính là yêu cầu mang tính bản chất của hiệu lực hợp đồng và là nội dung cơ bản của nguyên tắc hiệu lực bất biến (pacta sunt servanda) trong lĩnh vực hợp đồng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc áp dụng cứng nhắc nguyên tắc này có thể dẫn đến sự bất hợp lý hoặc bất công cho một bên trong hợp đồng. Do đó, để tạo sự cân bằng, có một ngoại lệ cho nguyên tắc này, đó là nguyên tắc cho phép điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi (rebus sic stantibus), thể hiện ở việc hợp đồng có thể được bổ sung, sửa đổi hoặc chấm dứt mà không có sự đồng ý của cả hai bên giao kết.

          Bộ luật Dân sự 2005 chưa chấp nhận cơ chế quy định việc đàm phán lại để điều chỉnh nội dung của hợp đồng trong trường hợp hoàn cảnh có sự thay đổi làm mất cân bằng kinh tế nghiêm trọng giữa các bên. Thực tiễn tài phán tại Việt Nam cũng từng ghi nhận nhiều trường hợp có liên quan đến nhu cầu thay đổi hoàn cảnh ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng và đã làm cho các bên liên quan, các nhà tư vấn và cả Tòa án trở nên “lúng túng”, vụ án dưới đây là một ví dụ.

          Tháng 11/2007, bà Trương Thị H. (Đồng Nai) ký hợp đồng mua một ôtô tải của Công ty T., với giá gần 120 triệu đồng. Theo thỏa thuận, bà H phải đặt cọc số tiền 20 triệu đồng (số tròn), và công ty sẽ giao xe vào cuối tháng 4/2008. Đến hạn, công ty mời bà H đến nhận xe nhưng đòi tăng giá xe lên thêm hơn 30 triệu đồng so với giá ban đầu. Bà H. không chấp nhận và đã khởi kiện công ty ra tòa để đòi công ty giao xe theo đúng giá ghi trong hợp đồng. Theo người đại diện công ty: “Công ty có cam kết không tăng giá xe nhưng đến thời điểm giao xe thì Nhà nước áp dụng quản lý khí thải xe theo quy chuẩn mới nên công ty buộc phải điều chỉnh giá xe. Nếu bà H không chịu nhận xe giá cao hơn vì chất lượng tốt hơn, công ty sẵn sàng trả lại tiền cọc cộng lãi suất ngân hàng đối với số tiền mà bà H đã nộp cho công ty”. Theo Luật sư Nguyễn Văn H., công ty có trách nhiệm bán xe cho bà H. theo đúng giá đã thỏa thuận trong hợp đồng. Những lý do nêu ra như nguồn xe của công ty bị cắt, Nhà nước quản lý khí thải xe theo quy chuẩn mới tại thời điểm giao xe… chỉ là những vướng mắc của công ty, không phải là trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan để công ty được quyền giao xe chậm và tăng giá xe. Như vậy, quan điểm của bên bán là khi Nhà nước đưa ra quy định mới về tiêu chuẩn khí thải dẫn đến việc thay đổi làm giá thành của xe tăng lên thì bên mua phải chịu khoản chi phí tăng lên này. Còn bên bên mua và luật sư đều cho rằng, đây không phải là sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên bên bán phải trách nhiệm thực hiện đúng hợp đồng.

          Có thể thấy, vấn đề thay đổi hoàn cảnh làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên khó khăn hơn và tăng chi phí thực hiện hợp đồng tuy nhiên do quy định về vấn đề này trong luật thực định còn thiếu sót, nên đã gây ra nhiều khó khăn cho các bên liên quan trong việc áp dụng pháp luật. Chính vì vậy, Bộ luật Dân sự 2015 với nhiều quy định mang tính đột phá, đã quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại Điều 420.

Thực hiện hợp đồng khi thay đổi hoàn cảnh

Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015

 Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản

          Khi tham gia quan hệ hợp đồng, các bên đều nhằm mục đích đạt được những lợi ích nhất định, thông thường lợi ích mỗi bên đạt được là cân bằng nhau. Ví dụ, trong quan hệ hợp đồng thuê tài sản, người cho thuê phải giao tài sản (cho bên thuê sử dụng trong một thời hạn) và nhận được tiền thuê; bên thuê nhận tài sản và phải thanh toán tiền. Tiền thanh toán chính là giá trị của tài sản đó. Để tối đa hóa lợi ích cho mình, khi giao kết hợp đồng các bên thường phải tính toán tới các yếu tố tác động của thị trường như: chất lượng, số lượng, giá cả, thanh toán, giao nhận, bảo hành, chính sách pháp luật có liên quan,… trên cơ sở đó thỏa thuận, thống nhất những nội dung của hợp đồng. Tuy nhiên, các yếu tố bên ngoài lại thường xuyên thay đổi với tính chất, mức độ và tầm ảnh hưởng khác nhau, có thể chỉ là những thay đổi nhỏ, nằm trong tầm dự báo và kiểm soát của các bên, nhưng cũng có thể là những thay đổi lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của một bên khi thực hiện hợp đồng. Đó là hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi thực hiện hợp đồng.

          Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế sử dụng thuật ngữ “hardship” để chỉ hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Theo đó, “hoàn cảnh hardship được xác lập khi xảy ra các sự kiện làm thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng, hoặc chi phí thực hiện nghĩa vụ tăng lên, hoặc do giá trị của nghĩa vụ đối trừ giảm xuống…” và thỏa mãn bốn điều kiện được quy định trong đoạn tiếp theo của Điều 6.2.2: các sự kiện này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao kết hợp đồng; bên bị bất lợi đã không tính đến một cách hợp lý các sự kiện đó khi giao kết hợp đồng; các sự kiện đó nằm ngoài sự kiểm soát của bên bị bất lợi; và, rủi ro về các sự kiện này không được bên bị bất lợi gánh chịu”[3].

          Bộ luật Dân sự 2015 không đưa ra khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản mà chỉ liệt kê các dấu hiệu của nó. Theo nghĩa khái quát nhất, có thể hiểu hoàn cảnh thay đổi cơ bản là sự biến động một cách bất thường các yếu tố ngoại cảnh mà các bên đã dựa vào đó để giao kết hợp đồng, dẫn đến việc thực hiện hợp đồng đã kí kết có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên.

Sự cần thiết của quy định về hoàn cảnh thay đổi

          Việc quy định vấn đề điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản thể hiện một số điểm tích cực như:

          – Loại bỏ bất công bằng giữa các bên: Trước Bộ luật Dân sự 2015, chưa có một quy định mang tính khái quát cho việc điều chỉnh lại các hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi. Do đó, nếu theo đúng nguyên tắc phải thực hiện hợp đồng theo như cam kết giữa các bên sẽ làm bất công bằng xuất hiện. Tuy nhiên, nếu pháp luật cho phép (một bên) điều chỉnh lại hợp đồng, bất công bằng sẽ được loại bỏ và có thể vẫn duy trì được quan hệ hợp đồng giữa các bên.

          – Phù hợp với nguyên tắc thiện chí: Nguyên tắc thiện chí là nền tảng của mọi giao dịch dân sự, bởi lẽ một giao dịch dân sự dù đơn giản hay phức tạp, mức độ dù lớn hay nhỏ thì khi thực hiện các quyền và thi hành các nghĩa vụ, sự trung thực, thiện chí luôn được đặt lên vị trí hàng đầu, điều đó thể hiện ở việc các bên không chỉ chăm lo đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình mà còn phải tôn trọng, quan tâm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhau thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

          – Phù hợp với xu hướng chung của thế giới, đặc biệt với cấp độ quốc tế, hai Bộ nguyên tắc về hợp đồng rất nổi tiếng và có ảnh hưởng nhiều trên thế giới là: Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế và Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng đều có quy định cho phép điều chỉnh hợp đồng. Đây là một những nguồn tham khảo quan trọng.

Các dấu hiệu xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản

          Tại Khoản 1, Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015, sự thay đổi hoàn cảnh được coi là thay đổi cơ bản phải đồng thời đáp ứng cả 5 điều kiện sau:

          Thứ nhất, sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng. Sự thay đổi hoàn cảnh phải là yếu tố khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các bên trong hợp đồng. Ngoài ra, thời điểm của sự thay đổi của hoàn cảnh là sau khi các bên đã giao kết hợp đồng, vì nếu diễn ra trước hoặc tại thời điểm giao kết thì bắt buộc các bên phải nhận thức để thỏa thuận nội dung của hợp đồng hoặc không xác lập hợp đồng để bảo đảm lợi ích của nhau.

          Thứ hai, tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh. Quy định này rất quan trọng, thể hiện tính khách quan và tính không thể dự báo trước của sự thay đổi hoàn cảnh bởi nếu các bên có thể nhận thức được sự thay đổi về hoàn cảnh từ trước và thậm chí là tại thời điểm giao kết hợp đồng mà các bên vẫn thỏa thuận giao kết những nội dung như lúc không có sự thay đổi về hoàn cảnh thì các bên không được hưởng những quyền lợi theo quy định tại Điều luật này.

          Thứ ba, hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác. Những thay đổi về hoàn cảnh phải đủ “lớn”, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực hiện hợp đồng, làm thay đổi cân bằng lợi ích giữa các bên. Để khẳng định mức độ thay đổi hoàn cảnh có đủ “lớn” hay không cần đặt việc giao kết hợp đồng trong bối cảnh mới với giả thiết: với hoàn cảnh đã thay đổi thì các bên sẽ không giao kết hợp đồng vì không đạt được lợi ích, hoặc để có được lợi ích thì các bên đã phải thỏa thuận nội dung hợp đồng hoàn toàn khác.

          Thứ tư, việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên. Dựa trên mức độ ảnh hưởng của sự thay đổi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng, nếu như các bên vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng thì có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên. Điều kiện này có liên quan chặt chẽ với điều kiện trước, là hậu quả xảy ra khi tiếp tục thực hiện hợp đồng.

          Thứ năm, bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích. Đây là quy định nhằm xác định nghĩa vụ của bên bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của hoàn cảnh thực hiện hợp đồng. Nếu như bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu chấm dứt hoặc sửa đổi hợp đồng thì bản thân họ cũng có nghĩa vụ ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng của sự thay đổi hoàn cảnh đó đến mình.

          Một lưu ý cần quan tâm khi nghiên cứu về vấn đề này đó là, việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản có nét tương đồng với thực hiện hợp đồng khi xảy ra sự kiện bất khả kháng, vì đều là những sự kiện khách quan, bất thường, không thể dự báo; bên chịu tác động đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép mà không thể ngăn chặn được hoặc khắc phục được. Tuy nhiên, giữa hai vấn đề này có những điểm khác biệt căn bản: Khi xảy ra sự kiện bất khả kháng thì bên chịu tác động của sự kiện bất khả kháng không thể thực hiện được hợp đồng, còn khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản thì bên chịu sự tác động vẫn có thể thực hiện được hợp đồng, nhưng khi thực hiện sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng; việc xảy ra sự kiện bất khả kháng là căn cứ để xem xét việc miễn hoặc giảm trách nhiệm hợp đồng cho bên chịu ảnh hưởng, còn khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản thì bên chịu sự tác động được quyền yêu cầu sửa đổi hợp đồng.

          Ví dụ: Năm 2015, A vì phải chuyển công tác vào Tp. Hồ Chí Minh nên ký hợp đồng với B thuê nhà (nhà cấp 4, 50m2) trong thời hạn 5 năm với giá thuê cố định và không có điều khoản về điều chỉnh giá thuê. Đến đầu năm 2016, một trận động đất xảy ra khiến cho nhà của A bị sập (rất may lúc đó B đang ở quê), khiến cho A không có nhà để cho B thuê nữa (trong khi thời hạn còn 4 năm). Đây là sự kiện bất khả kháng và A được miễn trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng cũng như nộp phạt vi phạm hợp đồng cho B (nếu có). Nhưng cũng trong trường hợp trên, nếu như đầu năm 2016, do đồng tiền mất giá (lạm phát tăng 20%, trong khi dự báo của Chính phủ là 5%) khiến cho giá nhà tăng cao, nếu như tiếp tục cho thuê nhà với giá cũ sẽ gây thiệt hại cho bên thuê. Trong trường hợp này có thể coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên cho thuê nhà có thể yêu cầu điều chỉnh lại giá thuê.

Cơ chế giải quyết

          Theo khoản 2, Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015, trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán để sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lí. Thông thường đây là bên có thiệt hại nghiêm trọng do hoàn cảnh thay đổi cơ bản và việc chấp nhận hay không chấp nhận phương án sửa đổi hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của bên kia. Đây cũng là căn cứ sửa đổi hợp đồng đã được quy định tại khoản 2, điều 421, bộ luật Dân sự 2015. Nếu như các bên đạt được phương án thỏa thuận thì hợp đồng tiếp tục thực hiện. Việc đàm phán phải được thực hiện trong một thời hạn hợp lý kể từ thời điểm có sự thay đổi cơ bản hoàn cảnh thực hiện hợp đồng, nếu như bên có lợi ích bị ảnh hưởng không thực hiện quyền yêu cầu này của mình thì coi như là họ không có nhu cầu thay đổi nội dung hợp đồng.

          Tuy nhiên, trong một số trường hợp, không dễ dàng đạt được sự thỏa thuận giữa hai bên bởi có những trường hợp, chính sự xung đột đó khiến một bên được nhận nhiều lợi ích hơn (đặc biệt là lợi ích vật chất). Khi đó một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án xem xét để buộc chấm dứt hợp đồng hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản (Khoản 3 Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015). Như vậy, có thể thấy, việc yêu cầu sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng trong trường hợp này không phải là quyền đơn phương của bên bị tác động bởi hoàn cảnh thay đổi. Cơ chế để thực hiện quyền này cũng khác so với cơ chế đơn phương chấm dứt hợp đồng do một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ. Bên cạnh đó, Tòa án ưu tiên việc chấm dứt hợp đồng, chỉ được sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi.

          Ngoài ra, tại Khoản 4 của Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015, vì việc yêu cầu sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng không phải là quyền đơn phương của bên bị tác động bởi hoàn cảnh thay đổi, nên trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

 Đánh giá

          Mặc dù hợp đồng được giao kết có hiệu lực thì phải được tôn trọng và thực hiện đúng. Nhưng việc thực hiện hợp đồng là một quá trình có nhiều rủi ro mà các bên không lường trước được. PGS.TS Hà Thị Mai Hiên cũng cho rằng: “Cần phải nhìn nhận hợp đồng không phải là một giá trị bất biến mà nó là một công cụ linh hoạt, uyển chuyển. Quá trình thực hiện hợp đồng có thể phát sinh những tình tiết mà các bên cần phải xem xét”. Mặt khác, những tranh chấp về loại này ở Việt Nam ngày càng phổ biến, nhất là trong các hợp đồng về xây dựng, hợp đồng cung ứng các hàng hóa hoặc dịch vụ dài hạn, hợp đồng phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành nghề mới, có nhiều rủi ro: Nhu cầu thị trường thay đổi, khó khăn đặc biệt do điều kiện sự thay đổi của tự nhiên, công nghệ, hay sự mất giá trầm trọng của đồng tiền, sự can thiệp của Nhà nước về tiêu chuẩn kỹ thuật mới hoặc hạn chế trong chính sách ngoại thương… Bởi vậy, quy định bổ sung cho phép điều chỉnh hợp đồng trong trường hợp thay đổi hoàn cảnh tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết cho những tranh chấp phát sinh, phù hợp với các thông lệ quốc tế.

          Tuy nhiên, bên cạnh đó còn những vấn đề cần phải đề cập đến như:

          – Điều luật dường như “bỏ quên” vai trò của Trọng tài. Theo Điều 6, Luật trọng tài thương mại năm 2010: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại tòa án thì tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tại vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được”. Như vậy, nếu các bên không thể thỏa thuận được về việc điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và có yêu cầu trọng tài giải quyết, thì trong trường hợp này, phán quyết của trọng tại lại không được công nhận (vì trọng tài không có thẩm quyền). Trong khi đó, tại Khoản 1, Điều 5 Luật trọng tài thương mại năm 2010: “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp”, dẫn tới có sự xung đột thẩm quyền giữa Tòa án và trọng tài thương mại trong trường hợp đồng quy định tranh chấp phát sinh được giải quyết bằng trọng tài, nhưng để giải quyết việc sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi cơ bản, một bên lại gửi đơn tới Tòa án. Do đó, sẽ phải xem xét tới vai trò của Trọng tài.

          – Tại Khoản 4 của Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015, nếu như không có thỏa thuận, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng khi đang diễn ra quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc. Quy định này dường như là mâu thuẫn với quy định tại điểm d, khoản 1 điều 420, với quy định này, trong trường hợp không thỏa thuận được, bên còn lại có thể cố tình trì hoãn giải quyết vụ việc tại tòa án nhằm thu được nhiều lợi ích hơn, bên còn lại chắc chắn sẽ bị thiệt hại. Tuy nhiên thì lại có quan điểm cho rằng, chừng nào hợp đồng chưa được điều chỉnh lại hay chưa bị tòa án cho chấm dứt thì hợp đồng vẫn có hiệu lực thực hiện giữa các bên, do đó các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện cho dù đang tiến hành thương lượng. Điều này nhằm hạn chế được trường hợp một bên lạm dụng quy định về thay đổi hoàn cảnh để hoãn thực hiện hợp đồng.

          – Ngoài ra, một số vấn đề cần được hướng dẫn cụ thể tại các văn bản dưới luật khác (nghị định, thông tư,…) để làm rõ như: Cách tính “thiệt hại” và “chi phí thực hiện hợp đồng”; quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 do đây là điều kiện trung tâm để xác định sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh; mối liên quan với người thứ ba,…

Xây dựng và giải quyết tình huống về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Nội dung tình huống

          Năm 2017, Công ty A (trụ sở tại Đắc Lắc) ký hợp đồng với Công ty B (trụ sở tại Tp. Hồ Chí Minh) để thiết kế một hệ thống chế biến cà phê cho công ty A. Tổng giá trị hợp đồng là hơn 5 tỷ đồng, thời hạn Công ty B phải bàn giao hệ thống chế biến là 3 năm, kể từ khi ký hợp đồng, có thỏa thuận bên vi phạm hợp đồng sẽ chịu phạt hợp đồng với mức 12% tổng giá trị hợp đồng. Sau hai năm thực hiện, Công ty B tạm ngưng công việc, yêu cầu công ty A đàm phán lại bằng việc ký thêm phụ lục hợp đồng theo hướng tăng giá lên do hoàn cảnh thay đổi. Theo công ty B, tại thời điểm hai bên ký hợp đồng, nhiều bộ phận, thiết bị để chế tạo hệ thống chế biến cà phê không phải nhập ngoại do các công ty trong nước có thể sản xuất được. Tuy nhiên, sau khi có quy định mới của Nhà nước thì một số linh kiện không có hàng trong nước (do nhà nước áp dụng quy chuẩn chất lượng mới, khiến cho các thiết bị đó không được sản xuất), Công ty B phải nhập khẩu từ nước ngoài, và giá thành tăng gấp 3 lần. Nếu không tăng giá hợp đồng thì Công ty B sẽ bị lỗ nặng và không thể tiếp tục kinh doanh. Công ty A không đồng ý thỏa thuận, cho rằng công ty B cố tình viện lí do để đơn phương chấm dứt hợp đồng, do đó không chấp nhận yêu cầu đàm phán lại, công ty B phải tiếp tục thực hiện công việc theo đúng thời hạn đã cam kết.

Giải quyết tình huống

          Tình huống trên là một tình huống có sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh, dẫn tới một bên khi thực hiện sẽ tốn kém hơn rất nhiều so với dự tính. Căn cứ vào những dấu hiệu về hoàn cảnh thay đổi cơ bản được quy định tại khoản 1, Điều 420 Bộ luật dân sự 2015, trong tình huống trên, có thể thấy: Việc Nhà nước áp dụng quy chuẩn mới là một sự kiện khách quan, xảy ra sau khi A và B đã giao kết; việc xảy ra đó nằm ngoài ý chí và dự liệu của cả A và B. Chính việc thay đổi hoàn cảnh đó gây nên một bất lợi rất lớn, mà nếu như biết trước được sự thay đổi đó, công ty B đã thay đổi mức giá cả cho kịp thời hoặc không chấp nhận giao kết hợp đồng với công ty A (nếu A không chấp nhận và yêu cầu mức giá ở thời điểm hiện tại). Ảnh hưởng của sự thay đổi về chính sách của nhà nước diễn ra khiến công ty B bị thiệt hại nghiêm trọng, do B phải nhập khẩu thiết bị từ nước ngoài, với giá gấp 3 lần, như vậy giá của hệ thống chế biến như đã thỏa thuận (4 tỷ) không còn phù hợp nữa, vì chi phí thiết bị đã tăng (cần phải nói thêm rằng, giá chi phí sẽ có sự thay đổi không phải bên B không tính toán được trước, tuy nhiên như đã nói, việc tăng đến gấp 3 lần hoàn toàn quá khả năng dự báo của B về thị trường, bởi rõ ràng tại thời điểm kí kết hợp đồng, một số công ty trong nước có sản xuất các thiết bị đó với mức giá chênh lệch không đáng kể). Bên cạnh đó, bên B đã tìm hiểu kĩ các nhà cung ở các nước gần Việt Nam (như Trung Quốc, Campuchia,..) để giảm thiểu thấp nhất chi phí vận chuyển nhưng giá thiết bị (đáp ứng được quy chuẩn) vẫn không thay đổi ( bình quân gấp 3 lần so với trong nước). Chính vì thế, công ty B – bên bị ảnh hưởng lợi ích nghiêm trọng, đã yêu cầu bên A đàm phán lại hợp đồng (một thời gian ngay khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đáp ứng quy chuẩn chất lượng và sau khi đã khảo sát thị trường, nhờ tư vấn, trung gian môi giới,…) tuy nhiên thì không thể đạt được một sự thỏa thuận hợp lí từ bên A. Do đó, để bảo vệ quyền lợi của mình, công ty B có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án sửa đổi hợp đồng ( theo điểm a, khoản 2, Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015). Tòa án khi đó sẽ quyết định sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của cả A và B do hoàn cảnh thay đổi cơ bản; hoặc chấm dứt hợp đồng nếu việc sửa đổi hợp đồng sẽ gây ra thiệt hại lớn hơn so với các chi  phí để thực hiện hợp đồng khi được sửa đổi

          Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một nội dung mới và cần thiết trong Bộ Luật Dân sự 2015, là một bước tiến trong kỹ thuật lập pháp, thể hiện sự tiến bộ trong tư duy lập pháp và tham khảo kinh nghiệm quốc tế của các nhà làm luật Việt Nam, đáp ứng nhu cầu thực tiễn và bảo đảm quyền lợi của bên yếu thế trong thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, đây là quy định mới và khá phức tạp, đòi hỏi cần có sự nghiên cứu và nhìn nhận từ phía các nhà làm luật, nhà nghiên cứu để góp phần hoàn thiện quy định nói riêng và Bộ luật Dân sự 2015 nói chung; đồng thời Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên xem xét ban hành nghị quyết hướng dẫn để tiến tới áp dụng thống nhất quy định tại Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 trong giải quyết các vụ việc liên quan.


        Trên đây là toàn bộ  tư vấn về: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trong BLDS 2015. Mọi thắc mắc của bạn liên quan tới vấn đề này hoặc cần tư vấn về bồi thường, hợp đồng hay muốn sử dụng các dịch vụ về dân sự, bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được hỗ trợ cụ thể.

      Trân trọng./.


 

Đánh giá post

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *