CẤU THÀNH TỘI PHẠM VÀ HÌNH PHẠT TỘI BẮT CÓC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

  • Người chuẩn bị phạm tội sẽ bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
  • Hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thỏa mãn các yếu tố cơ bản trong cấu thành tội phạm sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
  • Hành vi bắt cóc có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, dùng vũ khí,… sẽ bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm.
  • Hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc gây thương tích từ 31% đến 60% sẽ phạt tù từ 10 năm đến 18 năm.
  • Hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản từ 500.000.000 đồng trở lên hoặc làm chết người hay gây thương tích trên 61% sẽ bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
  • Ngoài ra còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

      Thực trạng tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong xã hội hiện nay diễn ra càng ngày nhiều và phổ biến. Trong thực tiễn, chúng ta thấy được thực trạng này đang diễn ra phổ cập. Vì vậy, những đối tượng bắt người làm con tin nhìn chung có phạm tội không? Theo đó, hình phạt như thế nào? Hay khi pháp nhân thương mại xâm phạm quyền đó là sao? Luật Quang Huy sẽ giúp bạn giải đáp những vấn đề này.


Căn cứ pháp lý


Thế nào là tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản?

Bắt cóc là hình thức bí mật bắt giữ người trái pháp luật nhằm thực hiện một mục đích hoặc âm mưu nào đó về kinh tế, chính trị.

     Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt người làm con tin nhằm buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt.


Cấu thành tội phạm của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Mặt khách quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Hành vi khách quan

      Có hành vi bắt cóc người khác: Bắt cóc là hành vi giữ người trái pháp luật. Thông thường, hành vi bắt người làm con tin được thực hiện ám muội và đưa người bị bắt đến một nơi nào đó. Sau đó, người phạm tội tìm cách thông báo cho người thân của nạn nhân biết. Theo đó, đối tượng yêu cầu người thân của họ phải nộp một số tiền thì mới thả người. Bằng không, người bị bắt cóc sẽ bị nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm. Hành vi giữ người trái pháp luật được thực hiên bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng những thủ đoạn khác như cho uống thuốc ngủ, thuốc mê, xịt ê-te, lừa dối. Qua đó, đối tượng bắt được người làm con tin. Thủ đoạn bắt cóc không phải dấu hiệu đặc trưng của hành vi phạm tội (không có ý nghĩa trong việc định tội). Tuy nhiên, hành vi bắt cóc người làm con tin lại là đặc trưng cơ bản của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Bởi vì, bắt người làm con tin chính là một thủ đoạn nhằm chiếm đoạt tài sản.
      Ngoài hành vi bắt cóc người làm con tin, người phạm tội còn có hành vi đe doạ người khác (cơ quan, tổ chức hoặc người thân của con tin). Cụ thể, nếu không giao nộp tiền hoặc tài sản thì con tin sẽ bị giết, bị đánh đập, hành hạ… Hành vi đe dọa thể hiện qua nhiều phương pháp khác nhau như: gọi điện thoại, viết thư, nhắn tin qua người khác hoặc trực tiếp gặp người thân của con tin…
      Cùng với việc đe đi đe dọa, người phạm tội còn có thể có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có những hành vi, thủ đoạn khác đối với người bị bắt làm con tin để người này sợ hãi. Để qua đó, họ yêu cầu cơ quan, tổ chức hoặc người thân của nạn nhân nộp tiền hoặc tài sản. Ví dụ, đánh, trói, dọa giết, dọa đánh, dọa đem bán ra nước ngoài, bán cho các ổ mại dâm… Đối với hành vi xâm phạm trực tiếp đến con tin, nếu cấu thành một tội độc lập thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng với hành vi xâm phạm.
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Hậu quả

       Hậu quả của tội này không phải là yếu tố bắt buộc để định tội. Tức là, nếu người phạm tội chưa gây ra hậu quả nhưng có ý thức chiếm đoạt và đã thực hiện hành vi bắt cóc người làm con tin thì khi đó, tội phạm đã hoàn thành. Tuy vậy, nếu gây ra hậu quả thì tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt nặng hơn hoặc là tình tiết xem xét khi quyết định hình phạt.
Mặt chủ quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Yếu tố lỗi

   Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt được thực hiện do cố ý.

Mục đích

      Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản. Nếu hành vi bắt cóc người làm con tin lại nhằm một mục đích khác thì đó không phải tội này. Và tùy lúc, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm tương ứng khác. Ví dụ: Để trả đũa anh Minh, Hoan bắt cóc em trai anh lúc mới hai tuổi để anh Minh phải hủy buổi ký kết hợp đồng quan trọng. Do đó, hành vi của H chỉ phạm tội bắt người trái pháp luật.

Chủ thể của tội phạm

      Người phạm tội là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định tại Điều 12 luật này.  Người từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi sẽ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 169 Bộ luật hình sự.

Khách thể của tội phạm

      Nghĩa là, người phạm tội cùng một lúc xâm phạm đến hai khách thể (quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân). Do vậy, trong cùng một vụ án có thể có một nạn nhân hoặc nhiều hơn. Có thể có người bị hại chỉ bị xâm phạm đến tài sản nhưng cũng có người chỉ bị xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự; hoặc cùng bị xâm phạm mọi khách thể.

      Thông thường khi đó, người bị hại là người bị xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự; còn người bị xâm phạm tài sản lại là những người thân của nạn nhân. Tuy nhiên, cũng có trường hợp người bị bắt cóc đồng thời là người bị xâm phạm tài sản.


Trách nhiệm hình sự của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt

Hình phạt chính của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

1. Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản

Hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thỏa mãn các yếu tố cơ bản trong cấu thành tội phạm  sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

 

Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

g) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 11 % đến 30%;

h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

i) Tái phạm nguy hiểm.

Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm

 

Giải thích:

  • Phạm tội có tổ chức: một hình thức đồng phạm đặc biệt. Ngoài dấu hiệu thường, tính chất này có đặc điểm của sự cấu kết chặt chẽ.
  • Tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp: quy định tại nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình sự thì tình tiết này được quy định như sau:Chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xoá án tích;Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.
  • Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác như sau:
    “Vũ khí” là một trong các loại vũ khí được quy định tại khoản 1 Điều 1 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ), cụ thể bao gồm:
    Vũ khí quân dụng gồm: các loại súng ngắn, súng trường, súng liên thành; các loại pháo, dàn phóng, bệ phóng tên lửa, súng cối, hoá chất độc và nguồn phóng xạ các loại đạn; bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, thuỷ lôi, vật liệu nổ quân dụng, hoả cụ và vũ khí khác dùng cho mục đích quốc phòng – an ninh.  Vũ khí thể thao gồm: các loại súng trường, súng ngắn thể theo chuyên dùng các cỡ; các loại súng hơi, các loại vũ khí khác dùng trong luyện tập, thi đấu thể thao và các loại đạn dùng cho các loại súng thể thao nói trên.
    Súng săn gồm: Các loại súng săn một nòng, nhiều nòng các cỡ, tự động hoặc không tự động, súng hơi các cỡ, súng kíp, sung hoả mai, súng tự chế và các loại đạn, vỏ đạn, hạt nổ, thuốc đạn dùng cho các loại súng kể trên.
    Vũ khí thô sơ gồm: Dao găm, kiếm, giáo, mác, đinh ba, đại đao, mã tấu, quả đấm bằng kim loại hoặc chất cứng, cung, nỏ, côn các loại và các loại khác do Bộ Nội vụ quy định.
    “Phương tiện nguy hiểm” là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.
    Về công cụ, dụng cụ
    Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn…
    Về vật mà người phạm tội chế tạo ra
    Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ…
    Về vật có sẵn trong tự nhiên
    Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt…
  • Đối với 02 người trở lên: Đối với việc bắt 02 người trở lên làm con tin.
  • Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân: hình thức tâm lý hoặc hành vi cá biệt được cho là gây ra đau khổ, mất khả năng cư xử cũng như phát triển bình thường.
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội: tạo ra sự hoang mang, lo sợ đến trật tự trị an hay làm xáo trộn trật tự nơi công cộng
  • Tái phạm nguy hiểm: Những trường hợp sau đây được coi như vậy: Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Phạt tù từ 10 năm đến 18 năm

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Làm chết người;

c) Gây thương tích, gây tn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tn thương cơ thể 61% trở lên.

Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

5. Người chuẩn bị phạm tội này

Giải thích:

      Chuẩn bị phạm tội: là việc tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện, hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm,…

Hình phạt bổ sung của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

    Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

      Phạt quản chế: là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương.


      Trên đây là toàn bộ giải đáp của chúng tôi về cấu thành và mức xử phạt tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mới nhất theo quy định của pháp luật. Nếu nội dung tư vấn còn chưa rõ, có nội dung gây khó hiểu hoặc có thắc mắc cần tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể kết nối tới HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được Luật sư tư vấn luật hình sự trực tiếp tư vấn.

      Trân trọng./.


 

Bài viết liên quan bạn nên xem
Subscribe
Notify of
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments