VẤN ĐỀ VỀ THẤT NGHIỆP – LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

      Trong những năm gần đây chúng ta đã đạt được một số thành tựu phát triển rực rỡ trên nhiều lĩnh vực về mặt kinh tế, chính trị, xã hội…. Tuy nhiên,đằng sau những thành tựu chúng ta đã đạt được, thì cũng có không ít vấn đề mà Đảng và nhà nước ta cần quan tâm như: Tệ nạn xã hội, lạm phát, thất nghiệp… Nhưng có lẽ vấn đề được quan tâm hàng đầu ở đây là thất nghiệp. Thất nghiệp, đó là vấn đề cả thế giới cần quan tâm. Bất kỳ một quốc gia nào dù nền kinh tế có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì vẫn tồn tại thất nghiệp. Đó là vấn đề không tránh khỏi chỉ có điều là thất nghiệp đó ở mức độ thấp hay cao mà thôi. Qua bài phân tích sau đây tổng đài tư vấn Luật NQH chúng tôi xin giải quyết về vấn đề: “Vấn đề thất nghiệp, lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam”.


Danh mục tài liệu tham khảo

  • Bộ giáo dục và đào tạo, Kinh tế học vĩ mô (giáo trình dùng cho các trường đại học, cao đẳng khối kinh tế), Nxb. Giáo dục Việt Nam, 1997 – 2009.
  • Trường ĐHKTQD, Giáo trình nguyên lí kinh tế vĩ mô, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2008.
  • Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình kinh tế học đại cương, Nxb. CAND, Hà Nội, 2002.
  • Trần Đình Hoan và Lê Mạnh Khoa, “Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt nam” Nhà xuất bản – Hà nội 1999

Lí thuyết về thất nghiệp

Các khái niệm liên quan đến thất nghiệp

      Những người trong độ tuổi lao động là những người ở trong độ tuổi có nghĩa vụ và quyền lợi lao động ghi trong Hiến pháp.

      Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động đang có việc làm hoặc chưa có việc làm nhưng đang tìm việc làm.

      Người có việc là những người đang làm cho những cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hôi,…

      Người thất nghiệp là người hiện đang chưa có việc làm nhưng mong muốn và đang tìm việc làm.

      Ngoài những người có việc và thất nghiệp, những người còn lại trong độ tuổi lao động được coi là những người không nằm trong lực lượng lao động, bao gồm người đi học, nội trợ gia đình, những người không có khả năng lao động do ốm đau bệnh tật,… và một bộ phận không muốn tìm kiếm việc làm với những lí do khác nhau.

Ảnh hưởng của thất nghiệp

      Lợi ích của thất nghiệp

      Thất nghiệp ngắn hạn giúp người lao động tìm công việc ưng ý và phù hợp với nguyện vọng và năng lực làm tăng hiệu quả xã hội.

      Lợi ích xã hội: Làm cho việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả hơn và góp phần làm tăng tổng sản lượng của nền kinh tế trong dài hạn.

      Thất nghiệp mang lại thời gian nghỉ ngơi và sức khỏe.

      Thất nghiệp mang lại thời gian cho học hành và trau dồi thêm kỹ năng.

      Thất nghiệp tạo sự cạnh tranh và tăng hiệu quả.

      Tác hại

      Hao phí nguồn lực xã hội: con người và máy móc. Quy luật Okun áp dụng cho nền kinh tế Mỹ nói rằng 1% thất nghiệp chu kỳ làm sản lượng giảm 2,5% so với mức sản lượng tiềm năng (xuống dưới mức tự nhiên).

      Công nhân tuyệt vọng khi không thể có việc làm sau một thời gian dài.

      Khủng hoảng gia đình do không có thu nhập.

      Cá nhân thất nghiệp bị mất tiền lương và nhận trợ cấp thất nghiệp.

      Chính phủ mất thu nhập từ thuế và phải trả thêm trợ cấp.

      Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ.

      Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn. Giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô.

      Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm. Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm. Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó mà cơ hội đầu tư cũng ít hơn. Các doanh nghiệp bị giảm lợi nhuận.

Vấn đề về thất nghiệp lý thuyết thực tiễn ở Việt Nam
Vấn đề về thất nghiệp lý thuyết thực tiễn ở Việt Nam

Phân loại thất nghiệp

Theo nguồn gốc thất nghiệp

      Thất nghiệp tạm thời: xảy ra khi có một số người lao động trong thời gian tìm kiếm công việc hoặc nơi làm việc tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng, hoặc những người mới bước vào thị trường lao động đang tìm kiếm việc làm hoặc chờ đợi đi làm… Một xã hội trong bất kỳ thời điểm nào đều tồn tại loại thất nghiệp này. Chỉ có sự khác nhau về quy mô số lượng và thời gian thất nghiệp.

      Thất nghiệp cơ cấu xảy ra: khi có sự mất cân đối cung cầu giữa các thị trường lao động (giữa các ngành nghề, khu vực,. . . ) loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tế và khả năng điều chỉnh cung của các thị trường lao động. Khi sự lao động này là mạnh và kéo dài, nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng và chuyển sang thất nghiệp dài hạn.

      Thất nghiệp do thiếu cầu. Do sự suy giảm tổng cầu. Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thơì kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh, xảy ra ở khắp mọi nơi mọi ngành mọi nghề.

      Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường. Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức cân bằng thực tế của thị trường lao động.

      Theo sự tự nguyện

      Thất nghiệp tự nguyện là 1 bộ phận người lao động không làm việc do việc làm và mức lương không phù hợp với mong muốn của họ.

      Thất nghiệp không tự nguyện là bộ phận người không có việc làm mặc dù đã chấp nhận làm việc với mức lương hiện tại.

      Tỉ lệ thất nghiệp

      Tỉ lệ thất nghiệp là tỉ lệ phần trăm số người thất nghiệp so với tổng số người trong lực lượng lao động. Tỉ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp của một quốc gia.

Thực tiễn tình hình thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam những năm gần đây

      a. Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam năm 2014

      Q1/2014, cả nước có 1.045,5 nghìn người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, tăng 145,8 nghìn người so với Q4/2013, tuy nhiên đã giảm 22,2 nghìn người so với Q1/2013. Trong số người thất nghiệp, có là 493,0 nghìn người là nữ (chiếm 47,2%), 546,7 nghìn người ở thành thị (chiếm 52,3%).Về tỷ lệ, Q1/2014 tỷ lệ thất nghiệp chung là 2,21%, tăng so với Q4/2013 (1,9%),tuy nhiên giảm nhẹ so với Q1/2013 (2,27%) . Tỷ lệ thất nghiệp của nữ là 2,25%, cao hơn nam (2,17%). Tỷ lệ thất nghiệp thành thị là3,72%, cao gấp 2,4 lần nông thôn (1,53%).

      Nhóm lao động trình độ cao tiếp tục khó khăn khi tìm việc làm. Trong Q1/2014,có 162,4 nghìn người có trình độ từ đại học trở lên bị thất nghiệp, chiếm 4,14% tổng số người có trình độ này (mặc dù tỷ lệ này không cao), tăng 4,3 nghìn người so với Q4/2013; có 79,1 nghìn người có trình độ cao đẳng (chiếm 6,81%), tăng 7,5 nghìn người so với Q4/2013.

      Thất nghiệp thanh niên tiếp tục làvấn đề cần quan tâm. Trong Q1/2014, cả nước có 504,7 nghìn thanh niên (nhóm từ 15-24 tuổi) bị thất nghiệp (chiếm 6,66%), tăng 54,4 nghìn người so với Q4/2013 và tăng17,0 nghìn người so với Q1/2013. Đặc biệt,có 21,2% thanh niên độ tuổi 20-24 có trình độ từ đại học trở lên bị thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên của khu vực thành thị tiếptục ở mức cao (12,3%); của nữ (7,86%), cao hơn hẳn so với của nam (5,66%), cho thấy nữ thanh niên gặp khó khăn hơn khi tìm việclàm.

      b. Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam năm 2015

      Theo đánh giá của Tổng cục thống kê, nền kinh tế khởi sắc với sự phát triển mạnh của khu vực công nghiệp và dịch vụ là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị.

      Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi giảm dần theo quý (quý I là 2,43%; quý II là 2,42%; quý III là 2,35%; quý IV là 2,12%) và giảm chủ yếu ở khu vực thành thị (quý I là 3,43%; quý II là 3,53%; quý III là 3,38%, quý IV là 2,91%).

      Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) năm 2015 là 6,85% (năm 2013 là 6,17%; năm 2014 là 6,26%), trong đó khu vực thành thị là 11,20% (năm 2013 là 11,12%; năm 2014 là 11,06%); khu vực nông thôn là 5,20% (Năm 2013 là 4,62%; năm 2014 là 4,63%).

      Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên năm 2015 là 1,27% (năm 2013 là 1,21%; năm 2014 là 1,15%), trong đó khu vực thành thị là 1,83% (năm 2013 là 2,29%; năm 2014 là 2,08%); khu vực nông thôn là 0,99% (năm 2013 là 0,72%; năm 2014 là 0,71%).

      Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2015 là 1,82% (năm 2013 là 2,75%; năm 2014 là 2,40%), trong đó khu vực thành thị là 0,82% (năm 2013 là 1,48%; năm 2014 là 1,20%); khu vực nông thôn là 2,32% (năm 2013 là 3,31%; năm 2014 là 2,96%).

      Tỷ lệ thiếu việc làm có xu hướng giảm dần vào cuối năm (quý I là 2,43%; quý II là 1,80%; quý III là 1,62%; quý IV là 1,66%) và giảm chủ yếu ở khu vực nông thôn (quý I là 3,05%; quý II là 2,23%; quý III là 2,05%; quý IV là 2,11%).

      Theo Tổng cục thống kê, ước tính trong năm 2015 cả nước có 56% lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản có việc làm phi chính thức(năm 2013 là 59,3%; năm 2014 là 56,6%), trong đó thành thị là 47,1% (năm 2013 là 49,8%; năm 2014 là 46,7%) và nông thôn là 64,3% (năm 2013 là 67,9%; năm 2014 là 66,0%).

Nguyên nhân thất nghiệp ở Việt Nam

      Thất nghiệp gia tăng do suy giảm kinh tế toàn cầu: Suy giảm kinh tế toàn cầu khiến cho nhiều xí nghiệp nhà máy phải thu hẹp sản xuất, thậm chí phải đóng cửa do sản phẩm làm ra không tiêu thụ được. Chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu còn thấp không sánh kịp với các sản phẩm chất lượng cao của các quốc gia có trình độ phát triển cao. Chính vì vậy mà các doanh nghiệp phải cắt giảm nguồn lao động dẫn đến lao động mất việc làm. Đây là nguyên nhân chủ yếu, kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào đầu tư và xuất khẩu nên khi kinh tế toàn cầu bị suy giảm thì nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng rất lớn và hậu quả là nạn thất nghiệp sẽ tăng cao.

      Nếp nghĩ có lâu trong thanh niên: với thói quen học để “ làm thầy “ chứ không ai muốn mình “ làm thợ “, hay thích làm việc cho nhà nước mà không thích làm việc cho tư nhân. Với lý do này , nhu cầu xã hội không thể đáp ứng hết yêu cầu của lao động, điều này là thiếu thực tế bởi không dựa trên khả năng của bản thân và nhu cầu của xã hội. Một bộ phận lao động trẻ lại muốn tìm đúng công việc mình yêu thích mặc dù các công việc khác tốt hơn nhiều, dẫn đến tình trạng những ngành cần lao động thì lại thiếu lao động, trong khi đó lại thừa lao động ở các ngành không cần nhiều lao động.

      Lao động Việt Nam có trình độ tay nghề thấp: chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất ngày.Kinh tế Việt Nam từng bước áp dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới nên đòi hỏi một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao, thành thạo tay nghề. Trong khi đó đội ngũ lao động ở nước ta chỉ một số ít lao động có trình độ, tay nghề. Tác phong công nghiệp của lực lượng lao động nước ta còn non yếu,thiếu tính chuyên nghiệp; trong khi nền kinh tế đòi hỏi một đội ngũ lao động năng động.

Phương hướng giải quyết và giải pháp khắc phục

      Tăng nguồn vốn đầu tư (chủ yếu lấy từ dự trữ quốc gia,vay nước ngoài) đẩy nhanh tiến bộ xây dựng cơ sở hạ tầng,làm thuỷ lợi,thuỷ điện,giao thông…nhằm tạo việc làm mới cho lao động mất việc làm ở khu vực sản xuất kinh doanh,nới lỏng các chính sách tài chính,cải cách thủ tục hành chính nhằm thu hút vốn đầu tư của nước ngoài tạo việc làm mới cho người lao động. Bên cạnh đó chúng ta phải khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho các doanh nghiệp vay vốn để mua sắm trang thiết bị sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất.

      Sắp xếp lại và nâng cao hiệu quả của hệ thống dịch vụ việc làm. Xã hội hoá và nâng cao chất lượng đào tạo hệ thống đào tạo dạy nghề

      Khuyến khích sử dụng lao động nữ. Khuyến khích sử lao động là người tàn tật. Hỗ trợ các cơ sở sản xuất của thương binh và người tàn tật.

      Chính sách bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội. Hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo cho lao động thuộc diện chính sách ưu đãi, lao động thuộc đối tượng yếu thế.

      Tập chung phần vốn tín dụng từ quỹ quốc gia về việc làm với lãi xuất ưu đãi do các đối tượng trọng điểm vay theo dự án nhỏ để tự tạo việc làm cho bản thân gia đình và công cộng.

      Thất nghiệp là một hiện tượng xã hội tồn tại khách quan và gây ra những hậu quả xấu ngăn cản sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.Vì vậy,vấn đề giải quyết thất nghiệp là vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết,giảm bớt thất nghiệp không những tạo điều kiện để phát triển kinh tế mà còn thúc đẩy ổn định xã hội .Một xã hội có nền kinh tế phát triển,tỷ lệ thất nghiệp thấp thì tệ nạn xã hội sẽ bị đẩy lùi,đời sống nhân dân được nâng cao.


Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật qua HOTLINE 19006588 của Luật NQH Việt Nam để được giải đáp.

Trân trọng./.


 

BẠN CÓ THỂ ĐẶT CÂU HỎI CHO CÁC LUẬT SƯ

avatar
  Subscribe  
Notify of
G

TƯ VẤN NGAY!